Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học về công nghệ, trên mạng xã hội xuất hiện rất nhiều thông tin quảng cáo, rao bán tiền giả với nhiều mệnh giá khác nhau và hình thức rao bán cũng rất tinh vi, đa dạng, thậm chí công khai. Những hành vi này đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia.

 

1. Một số vấn đề chung về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả

Trước khi đề cập đến các yếu tố cấu thành tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, chúng ta không thể không nhắc tới một khái niệm quan trọng liên quan đến tội danh này, đó là "tiền giả". Sản xuất, sử dụng tiền giả là một hình thức gian lận, giả mạo. Tiền giả đã có song song với tiền thật ngay từ lúc còn sơ khai. Tiền mạ kim loại (được gọi là Fourrées) là tiền giả của tiền kim loại Lydian (được cho là một trong những đồng tiền giả đầu tiên của phương Tây).

Tiền giả là tiền được sản xuất mà không có tài chế tài pháp lý của nhà nước hoặc chính phủ. Như vậy, ở góc độ lý luận, cho đến nay có khá nhiều khái niệm khác nhau về tiền giả, sở dĩ có thực trạng như vậy là do mỗi học giả lại có cách tiếp cận, luận giải và tư duy khái quát khác nhau về vấn đề này. Tuy nhiên, để khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử bị can, bị cáo về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, các cơ quan tố tụng đã và đang áp dụng khái niệm về "tiền giả" được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành cho dù các khái niệm về "tiền giả" được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành cho dù các khái niệm này hiện nay còn tồn tại một số vấn đề cần được xem xét.

Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg ngày 30/6/2003 của Chính phủ đưa ra khái niệm tiền giả như sau:

"Tiền giả là những loại tiền được làm giống như tiền Việt Nam nhưng không phải Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức in, đúc, phát hành".

Trong khi đó, khái niệm tiền giả tại điểm 3 Mục I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao có nội hàm rộng hơn, cụ thể là tiền giả bao gồm:

"Tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành, nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam."

Khái niệm tiền giả gần đây được quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 28/2013/TT-NHNN ngày 05/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước và gần như trùng khít với khái niệm tiền giả được quy định tại Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg ngày 30/06/2003.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 3 Thông tư số 28/2013/TT-NHNN còn quy định "Tiền giả loại mới là loại tiền giả chưa được Ngân hàng Nhà nước (hoặc Bộ Công an) thông báo bằng văn bản." Như vậy, đây chính là các văn bản pháp luật quan trọng đưa ra khái niệm tiền giả và các văn bản còn hiệu lực pháp luật là cơ sở để cơ quan tố tụng áp dụng nhằm xử lý các hành vi "làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả.

 

2. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả

2.1 Quy định của pháp luật về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả

Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả được quy định tại Điều 207 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hiểu là tội phạm vi phạm pháp luật hình sự khi hành vi làm ra tiền giả, cất giấu tiền giả, vận chuyển tiền giả bằng nhiều cách thức khác nhau hoặc đem tiền giả vào lưu thông, trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường:

Theo quy định tại Điều 207 - Bộ luật hình sự năm 2015 về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả theo Bộ luật hình sự như sau:

"1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

3. Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

4. Người chuẩn bị phạm tội này; thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Cần hiểu rõ ràng, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả là một tội ghép của bốn hành vi phạm tội bao gồm làm tiền giả, tàng trữ tiền giả, vận chuyển tiền giả và lưu hành tiền giả.

Khi một tổ chức, cá nhân có thực hiện một trong bốn hành vi trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm, tàng trữ, vận chuyển tiền giả.

Tuy nhiên, khi tiến hành định tội thì cần căn cứ theo từng trường hợp cụ thể của người phạm tội để định tội. Chẳng hạn, một người có hành vi làm ra tiền giả thì khi định tội sẽ là người phạm tội "Tội làm tiền giả", hoặc người thực hiện cả hai hành vi là tàng trữ tiền giả và đưa tiền giả vào lưu hành thì được định tội là "Tội tàng trữ và lưu hành tiền giả".

Hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến nền kinh tế, đến sự phát triển của quốc gia như làm ảnh hưởng đến việc phát hành tiền, lưu hành và quản lý tiền tệ của Nhà nước.

Do đó, pháp luật quy định tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả là tội phạm hình sự và có những hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi này.

 

2.2 Dấu hiệu pháp lý của tội phạm

* Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội này có một trong các dấu hiệu sau:

  • Đối với tội làm tiền giả được thể hiện qua các hành vi in, vẽ, photo hoặc bằng các hình thức khác để tạo ra các đối tượng này giống như tiền thật, ngân phiếu thật, công trái thật nhằm làm cho người khác tưởng thật.
  • Đối với tội tàng trữ tiền giả được thể hiện qua hành vi cất giữ các đối tượng này (một cách trái pháp luật) dưới bất kỳ hình như nào.
  • Đối với tội vận chuyển tiền giả được thể hiện qua hành vi đưa đối tượng này từ nơi này đến nơi khác bằng mọi phương thức (đường sông, đường bộ, đường không...) với mọi phương tiện (như tàu, xe, máy bay...).
  • Đối với tội lưu hành tiền giả được thể hiện hành vi đưa tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả vào sử dụng để thanh toán, trao đổi... (như dùng tiền để mua hàng hóa....).

Lưu ý: Việc làm ra tiền giả là nhằm để thu lợi bất chính.

* Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tiền tệ và các loại giấy tờ có giá trị như tiền.

Đối tượng của tội phạm này là tiền

Tiền là vật ngang giá chung để trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Tiền được mọi người chấp nhận sử dụng, do Nhà nước phát hành và bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tê.

* Mặt chủ quan của tội phạm 

Tội phạm được thực hiện do cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội biết hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm.

* Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

 

3. Hình phạt đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả

3.1 Mức xử phạt

3.1.1 Xử phạt hành chính

Đây là một hành vi vi phạm hình sự nên người phạm tội ngoài phải chịu trách nhiệm hình sự ra thì còn có thể chịu mức xử phạt hành chính từ 10.000.000 đồng cho đến 100.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo Điều 207 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung

3.1.2 Truy tố trách nhiệm hình sự

Căn cứ theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả tùy thuộc theo từng trường hợp có thể bị xử lý như sau:

- Trường hợp 1: Người chuẩn bị phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả

Chuẩn bị phạm tội nghĩa là người phạm tội có thể đang trong giai đoạn chuẩn bị như tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm.

Cụ thể trong trường hợp này, người chuẩn bị phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm như mua sắm trang thiết bị để làm ra tiền giả, chứ chưa có xuất hiện tiền giả trong thực tế.

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, người chuẩn bị phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

- Trường hợp 2:

Người có hành vi làm tiền giả, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả thì sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Theo quy định này, người làm ra tiền giả, tàng trữ tiền giả, vận chuyển, lưu hành tiền giả chỉ cần đã có hành vi thực hiện các công việc trên, chưa xác định mức độ thiệt hại hay giá trị tiền giả là bao nhiêu đã bị xử lý vi phạm về hành vi này.

Ngoài ra, pháp luật không quy định độ tuổi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả mà "người nào", tức là bất cứ ai có năng lực hàng vi và đến một độ tuổi nhất định thực hiện việc làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả đều có thể là chủ thể của tội phạm này.

- Trường hợp 3: Trị giá tiền giả tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng

Người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

Khác với quy định trên, trong trường hợp này pháp luật quy định rõ giá trị tiền giá tương ứng trong phạm vi từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì sẽ bị phạt tù với mức cao hơn trường hợp thứ nhất với khung hình phạt từ 05 năm đến 12 năm. Việc tăng hình phạt có thể cho thấy mức độ nghiêm trọng của việc làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả đã cao hơn so với trường hợp đầu tiên.

- Trường hợp 4: Trị giá tiền giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên

Phạm tội trong trường hơp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên thì người làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Đây là khung hình phạt hình nặng nhất đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, cho thấy mức độ phạm tội khi tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên có thể gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng hoặc biệt nghiêm trọng cho xã hội.

Mức phạt tù thấp nhất là 10 năm được áp dụng cho người phạm có tội nhiều tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án...

Ngược lại, hình phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân áp dụng cho người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng khi phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội lần thứ 02 trở lên....

 

3.2 Vô ý sử dụng tiền giả có vi phạm pháp luật không?

Hành vi vi phạm trong luật hình sự để được cấu thành tội phạm thì một trong các yếu tố chính đó chính là lỗi cố ý và vô ý. Theo đó, lỗi cố ý được quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 trong những trường hợp sau:

  • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
  • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Lỗi vô ý được quy định tại Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

  • Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
  • Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Như vậy, cho dù cố ý hay vô ý thì người phạm tội vẫn có lỗi. Do đó, hành vi vô ý sử dụng tiền giả nếu như có chứng cứ chứng minh được người thực hiện không hề có lỗi trong việc sử dụng thì người đó có thể không bị truy cứu cách nhiệm hình sự.

 

3.3 Người mua tiền giả có bị xử lý theo quy định của pháp luật không?

Đối với hành vi mua tiền giả thì được chia làm 2 trường hợp:

  • Hành vi mua bán chưa hoàn thànhngười mua chưa nhận được tiền giả: Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 chỉ quy định về hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả. Do đó, nếu như hành vi mua bán chưa hoàn thành và người mua chưa nhận được tiền giả thì vẫn chưa đủ căn cứ để truy tố tội tàng trữ tiền giả. Vì vậy, trong trường hợp này có thể không bị truy tố trách nhiệm hình sự.
  • Hành vi mua bán đã hoàn thànhngười mua đã nhận được tiền giả: giai đoạn này được xem là đủ cấu thành tội phạm theo Điều 207 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự. Như vậy, trong trường hợp này hoàn toàn có thể bị xử lý hình sự.

 

4. Đề xuất hoàn thiện pháp luật

Trong 04 yếu tố cấu thành tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" thì yếu tố lỗi rất quan trọng, bởi lẽ các cơ quan tố tụng chỉ có thể truy tố, xét xử khi xác định được bị can, bị cáo thực hiện các hành vi nêu trên với lỗi cố ý. Việc xác định yếu tố lỗi không chính xác rất dễ tạo ra các vụ án oan sai, nhất là trong trường hợp nghiệp vụ của cán bộ tố tụng còn hạn chế hoặc cán bộ làm việc không công tâm.....

Chính vì vậy, để hạn chế oan sai có thể xảy ra đối với tội danh này, pháp luật cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục tại giai đoạn điều tra nhằm hạn chế việc cơ quan điều tra có thể áp đặt ý chí chủ quan đối với hành vi khách quan của bị can, bị cáo bởi thực tiễn cho thấy là trong nhiều trường hợp, tiền giả rất tinh vi, người dân rất khó phát hiện đó là tiền giả nếu không giám định hoặc không có máy chuyên dụng kiểm tra. Khi người dân không biết đó là tiền giả nhưng có hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền đó mà bị phát hiện là có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu cơ quan tố tụng làm việc không công tâm hoặc vì lý do nào đó cố tình "gò" vụ án theo hướng có tội bằng việc "lái" từ lỗi vô ý sang lỗi cố ý và cụ thể hóa việc đó thông qua các biên bản hỏi cung bị can. Trong khi đó, cho dù cải cách tư pháp đã hướng tới tôn trọng tranh tụng tại phiên tòa nhưng tình trạng "án tại hồ sơ" vẫn xảy ra. Chính vì vậy, liên quan đến việc chứng minh lỗi cố ý của bị can, bị cáo đối với tội danh này, cơ quan tố tụng cần phải rất thận trọng, làm việc công tâm để bảo đảm làm sao không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan người vô tội.

Yêu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" là tất yếu, khách quan để từ đó, cơ quan tố tụng có cơ sở áp dụng pháp luật thống nhất. Bên cạnh đó, thường xuyên tổ chức tập huấn, nâng cao khả năng chuyên môn của cán bộ thực hiện tố tụng kết hợp với bồi dưỡng đạo đức cán bộ, công chức nhằm bảo đảm công tác điều tra, truy tố, xét xử không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan người vô tội, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm trong lĩnh vực tiền tệ nói riêng.

Bài viết trên của Luật Minh Khuê đã giải đáp câu hỏi Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả có bị phạt?. Hi vọng bài viết đã cung cấp những thông tin hữu ích tới bạn đọc. Mọi vướng mắc, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến. Trân trọng cảm ơn!