1. Tiền giả là gì?

Theo Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, tiền kim loại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, tiền giả là loại tiền không phải do Nhà nước phát hành. Nó được tạo ra bởi các tổ chức, cá nhân với mục tiêu trục lợi. Xét về hình thức, tiền giả có đặc điểm giống đến 95% với tiền thật. Nếu không biết cách nhận dạng bạn sẽ dễ dàng bị lừa. Tiền giả bị cấm ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Khi tiền giả dễ dàng được tiêu thụ, thì số tiền trong thị trường sẽ tăng cao. Dẫn đến lạm phát tăng mà nhà nước không thể kiểm soát được. Khi đó, đồng tiền mất giá, nền kinh tế bị thiếu hụt mọi nguồn lực để phát triển.

Tiền giả được định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 28/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 05/12/2013 quy định về xử lý tiền giả, tiền nghi giả trong ngành ngân hàng. Cụ thể tại khoản 1 Điều 3, tiền giả là những loại tiền làm giống như tiền Việt Nam nhưng không phải do Ngân hàng Nhà nước tổ chức in, đúc, phát hành. Ngoài ra, trên thị trường còn xuất hiện tiền giả loại mới là loại tiền giả chưa được Ngân hàng Nhà nước hoặc Bộ Công an thông báo bằng văn bản.

Các hành vi như làm tiền giả; vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả; hủy hoại đồng tiền trái pháp luật; từ chối nhận, lưu hành đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông do Ngân hàng Nhà nước phát hành; các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật là các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm (căn cứ vào Điều 23 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010). Khi thực hiện một trong các hành vi bị cấm trên, người thực hiện sẽ bị áp dụng các biện pháp xử phạt tương ứng với mức độ, tính chất nghiêm trọng của từng hành vi.

Lưu hành tiền giả là hành vi trái pháp luật, được hiểu là hành vi đưa tiền giả sử dụng rộng rãi từ người này qua người khác, qua nhiều nơi khác nhau trong xã hội. Ví dụ như sử dụng tiền giả để mua bán hàng hóa, đồ dùng, thực phẩm, ... cũng được coi là hành vi lưu hành tiền giả.

Cách phân biệt tiền thật với tiền giả

Để tránh rủi ro do nhận phải tiền giả, cần nắm rõ các đặc điểm bảo an của đồng tiền và có thói quen kiểm tra đồng tiền khi giao dịch. Dưới đây là một số cách kiểm tra nhanh bằng tay hoặc mắt thường để phân biệt tiền thật, tiền giả:

- Kiểm tra chất liệu polymer in tiền:

Đồng tiền thật được in trên chất liệu polymer, có độ đàn hồi và độ bền cao. Vì vậy, bạn có thể kiểm tra độ đàn hồi bằng cách nắm gọn tờ tiền trong lòng bàn tay và khi mở ra, tờ tiền sẽ đàn hồi về trạng thái ban đầu như trước khi nắm; kiểm tra độ bền bằng cách kéo, xé nhẹ ở cạnh (mép) tờ tiền (lưu ý không kéo, xé đồng tiền ở vị trí đã bị rách) sẽ khó rách, khó bai giãn. Tiền giả chủ yếu được in trên nilon nên không có độ đàn hồi đặc trưng và độ bền như tiền thật, khi nắm gọn tờ tiền trong lòng bàn tay và mở ra, sẽ không đàn hồi về trạng thái ban đầu như trước khi nắm; khi kéo, xé nhẹ ở cạnh (mép) tờ tiền sẽ dễ bị bai giãn hoặc rách.

- Soi tờ tiền trước nguồn sáng:

Khi soi tờ bạc trước nguồn sáng, đối với tiền thật sẽ phát hiện ra 3 đặc điểm đó là bóng chìm, dây bảo hiểm và hình định vị. Hình bóng chìm khi soi dưới đèn có thể nhìn thấy rõ từ hai mặt, được thể hiện bằng nhiều đường nét tinh xảo, sáng trắng. Đối với dây bảo hiểm khi soi dưới đèn, có thể nhìn thấy rõ từ hai mặt, chạy dọc tờ bạc, có cụm số mệnh giá và chữ "NHNNVN" (hoặc "VND" – mệnh giá 10.000 đồng) tinh xảo, sáng trắng. Ở mệnh giá 50.000 đồng, dây bảo hiểm có ngắt quãng, có cụm số "50.000" Khi soi tờ bạc dưới đèn, sẽ nhận thấy thêm 1 chi tiết đó là hình định vị. Với hình định vị, hình ảnh trên hai mặt phải khớp khít, tạo thành một hình ảnh hoàn chỉnh, các khe trắng đều nhau (nhìn thấy từ hai mặt).  Ở tiền giả, hình bóng chìm không tinh xảo. Các chữ, số trên dây bảo hiểm không rõ ràng, không sắc nét; một số trường hợp không có yếu tố này. Hình định vị không khớp khít, các khe trắng không đều nhau.

- Vuốt nhẹ tờ bạc (Kiểm tra các yếu tố in lõm);

Đối với tiền thật, khi vuốt nhẹ ở chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quốc huy; Mệnh giá bằng số và bằng chữ; Dòng chữ "CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM" (ở mặt trước tất cả các mệnh giá) sẽ thấy có độ nổi, nhám ráp của nét in. Trên các tờ bạc mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng còn được tăng cường bảo đảm với yếu tố in lõm ở dòng chữ " NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM" và phong cảnh trên tờ tiền. Ở tiền giả, vuốt nhẹ tay chỉ có cảm giác trơn lì, không nhám, ráp như ở tiền thật hoặc có cảm giác gợn tay do vết dập trên nền giấy, không phải do độ nổi của nét in.

- Nghiêng tờ bạc (Kiểm tra mực đổi màu, dải iriodin, hình ẩn nổi):

Ở tiền thật, khi chao nghiêng tờ bạc, bạn sẽ thấy mực đổi màu (OVI) chuyển từ vàng sang xanh lá cây, dải iriodin lấp lánh ánh kim. Khi đặt ngang tầm mắt, sẽ thấy rõ chữ "VN" ở mệnh giá 200.000 đồng, 10.000 đồng. Đối với các tờ bạc mệnh giá 50.000 đồng, 20.000 đồng sẽ thấy chữ "NH". Ở tiền giả, có làm giả yếu tố OVI nhưng không đổi màu, hoặc có đổi màu nhưng không đúng màu như ở tiền thật; không có yếu tố IRIODIN hoặc có in giả dải màu vàng nhưng không lấp lánh như ở tiền thật.

- Kiểm tra các cửa sổ trong suốt (số mệnh giá dập nổi và yếu tố hình ẩn):

Đối với tiền thật, bạn có thể kiểm tra các ô cửa sổ lớn có số mệnh giá dập nổi (chi tiết nền nhựa trong suốt ở phía bên phải mặt trước tờ bạc), bạn sẽ thấy có số mệnh giá dập nổi tinh xảo. Cạnh đó, khi đưa mắt nhìn xuyên qua ô cửa sổ nhỏ có yêu tố hình ẩn (DOE) (Chi tiết nền nhựa trong suốt, ở phía trên bên trái mặt trước tờ bạc) dưới nguồn sáng đỏ như bóng đèn sợi đốt, ngọn lửa,... bạn sẽ có thể nhận thấy hình ẩn xung quanh nguồn sáng. Ở tiền giả, cụm số mệnh giá dập nổi trên cửa sổ lớn không tinh xảo như tiền thật, trong cửa sổ nhỏ không có yếu tố hỉnh ẩn.

- Dùng kính lúp, đèn cực tím (kiểm tra chữ in siêu nhỏ, các yếu tố phát quang):

Khi dùng kính lúp soi, đối với tiền thật, có thể tìm thấy mảng chữ in siêu nhỏ được tạo bởi các dòng chữ "NHNNVN" hoặc "VN" hoặc số có mệnh giá lặp đi lặp lại, nhìn thấy rõ dưới kính lúp. Khi dùng đèn cực tím, sẽ nhận thấy cụm số thể hiện mệnh giá in bằng mực không màu, chỉ nhận thấy được được khi soi dưới đèn cực tím. Ngoài ra, còn có số seri dọc màu đỏ phát quang màu vàng cam và seri ngang phát quang màu xanh lơ khi soi dưới đèn cực tím. Ở tiền giả, không có mảng chữ siêu nhỏ hoặc các dòng chữ, số không sắc nét, rất khó đọc. Không có mực không màu phát quang hoặc có làm giả nhưng phát quang yếu. Số seri không phát quang hoặc phát quang không giống như ở tiền thật.

 

2. Dùng tiền giả mua hàng hóa phạm tội gì?

Để xác định người thực hiện hành vi sử dụng tiền giả mua hàng hóa là phạm tội gì, cơ quan chức năng cần tiến hành điều tra, xác minh vụ việc. Trên thực tế, có hai trường hợp xảy ra khi dùng tiền giả mua hàng hóa, đó là:

- Người vi phạm chỉ phạm Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả

- Người vi phạm vừa phạm Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả vừa phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Để làm rõ hai trường hợp này, bài tư vấn sẽ đưa ra một ví dụ tình huống và phân tích trong từng trường hợp để làm rõ khi nào người dùng tiền giả để mua hàng hóa sẽ bị xử lý 1 tội danh hay 2 tội danh.

Ví dụ tình huống: Anh A được người ta cho 10 tờ tiền giả trị giá 500.000 đồng, tổng giá trị tiền giả anh A được cho là 5.000.000 đồng. Anh A có đem 7.000.000 đồng, trong đó có 5.000.000 đồng tiền giả và 2.000.000 đồng tiền thật đến cửa hàng vàng để đổi ra vàng. Sau đó, trên đường đi về, anh A  bị công an bắt giữ và đưa về trụ sở. Theo kết luận giám định của Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an thì trong số tiền 7.000.000 đồng thu lại được từ cửa hàng vàng, xác định được 10 tờ 500.000 đồng có tổng giá trị là 5.000.000 đồng của anh A là tiền giả. 

Theo thông tin của tình huống trên, ta thấy anh A có hành vi lưu hành tiền giả và có thể có hoặc không hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét về phương diện khách quan thì hành vi lưu hành tiền giả cũng là thủ đoạn, phương pháp để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên, khi xem xét kỹ ta nhận thấy thủ đoạn gian dối và hành vi lưu hành tiền giả là hoàn toàn khác nhau, không liên quan với nhau. Hành vi lưu hành tiền giả có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như:

+ Đem tiền giả bán lại cho người khác (đổi tiền giả lấy tiền thật), người bán nói rõ cho người mua biết đó là tiền giả, người mua cũng biết đó là tiền giả nhưng vẫn mua và việc trao đổi này không thể ngang giá;

+ Đem tiền giả tặng cho người khác có thể nói với người được tặng cho hoặc không nói đó là tiền giả;

+ Trộn tiền giả với tiền thật để thanh toán nhằm đánh lừa người khác;

+ Dùng tiền giả để mua hàng hóa, ...

Trong các hình thức trên, có những hình thức người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối, có hình thức người phạm tội phải dùng thủ đoạn gian dối mới lưu hành được tiền giả. Vậy nên, vấn đề đặt ra là anh A dùng 5.000.000 đồng tiền giả để đổi thành vàng thật ấy thì chủ cửa hàng vàng (hoặc nhân viên tại cửa hàng) có nhận định được 5.000.000 đồng mà anh A đưa kia là tiền giả hay không và hành vi trao đổi có diễn ra trót lọt hay không?

Trường hợp 1: Anh A trộn lẫn 5.000.000 đồng tiền giả với tiền thật đến cửa hàng vàng đổi ra vàng và bị chủ cửa hàng phát hiện và không thực hiện trao đổi

Trong trường hợp này, hành vi của anh A đã phạm tội lưu hành tiền giả, khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến an ninh tiền tệ. Anh A chỉ bị truy tố trách nhiệm hình sự về Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì bản thân cửa hàng nhận định được số tiền mà anh A đem ra trao đổi là tiền giả và không tiến hành trao đổi.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi chủ thể thực hiện đã chiếm giữ được tài sản sau khi dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa, giao tài sản cho người phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

Lưu hành tiền giả là hành vi tìm nguồn tiêu thụ, mua bán, đưa tiền giả vào lưu thông trên thị trường. Tội lưu hành tiền giả được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi tìm nguồn tiêu thụ, mua bán, đưa tiền giả vào thị trường để lưu thông.

Theo đó, thủ đoạn gian dối của anh A (trộn tiền giả lẫn vào tiền thật để mua hàng hóa) được diễn ra với hai mục đích, một là để có thể lưu hành được tiền giả, hai là có thể lừa chủ cửa hàng vàng để đổi lấy vàng thật. Tuy nhiên, chủ cửa hàng vàng đã phát hiện ra dẫn đến kết quả là anh A không thể chiếm đoạt được tài sản, đó là vàng thật. Do đó, thủ đoạn gian dối của anh A không dẫn đến được mục đích lừa đảo, hay nói cách khác tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản chưa hoàn thành.

Tuy nhiên, anh A đã sử dụng thủ đoạn gian dối, đã thực hiện hành vi đưa tiền giả vào thị trường để lưu thông. Tức là tội lưu hành tiền giả đã được hoàn thành. 

Như vậy, trong trường hợp này, anh A chỉ phải bị xử lý về hành vi lưu hành tiền giả.

Trường hợp 2: Anh A trộn lẫn 5.000.000 đồng tiền giả với tiền giả đến cửa hàng vàng đổi ra vàng và đã tiến hành đổi ra vàng trót lọt 

Trong trường hợp này, ta thấy anh A có hai hành vi gồm: hành vi lưu hành tiền giả và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Anh A có thực hiện thủ đoạn gian dối là trộn tiền giả vào tiền thật với mục đích là lưu hành được tiền giả và chiếm đoạt được tài sản của chủ cửa hàng vàng (dùng tiền giả đổi vàng thật).

Ở đây, anh A không chỉ phạm tội lưu hành tiền giả mà còn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bởi hành vi lưu hành tiền giả của bị cáo đã được quy định thành một tội độc lập, dù người phạm tội có hay không có việc dùng tiền giả để mua hàng hóa, chỉ cần đưa tiền cho người khác là đã cấu thành tội lưu hành tiền giả rồi.

Còn trong trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác thì hành vi này phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngoài tội lưu hành tiền giả. Tức là trong trường hợp này, anh A đã đổi từ tiền giả sang vàng thật trót lọt, tức là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được hoàn thành. 

Do đó, trong trường hợp này, anh A sẽ bị xử lý về cả 02 tội gồm: Tội lưu hành tiền giả và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tóm lại, để xác định hành vi sử dụng tiền giả mua hàng hóa phạm tội gì, cơ quan điều tra phải nhận định về các khía cạnh. Người thực hiện hành vi này có thể chỉ phạm Tội lưu hành tiền giả hoặc phạm cả Tội lưu hành tiền giả và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tùy thuộc vào mặt chủ quan, khách quan, chủ thể, khách thể của từng vụ việc để xác định xem người thực hiện hành vi dùng tiền giả để mua hàng hóa bị xử lý theo 01 tội hay 02 tội.

 

3. Sử dụng tiền giả để mua hàng hóa bị xử lý thế nào?

Vì sử dụng tiền giả để mua bán hàng hóa thuộc vào hoạt động lưu hành tiền giả nên người sử dụng tiền giả để mua hàng hóa sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

 

3.1. Xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến tiền giả

Căn cứ quy định tại Điều 31 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/11/2019 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng thì những đối tượng có những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tiền giả dưới đây sẽ bị xử lý bằng biện pháp xử phạt hành chính. Cụ thể: 

- Thứ nhất, phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

+ Không thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện tiền giả loại mới;

+ Không thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện có dấu hiệu tàng trữ, lưu hành, vận chuyển tiền giả;

+ Bố trí cán bộ làm công tác kiểm ngân, thủ quỹ hoặc giao dịch viên chưa qua đào tạo, tập huấn về kỹ năng nhận biết tiền thật, tiền giả;

+ Không giao nộp tiền giả theo quy định của pháp luật.

- Thứ hai, phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

+ Phát hiện tiền giả nhưng không thu giữ;

+ Phát hiện tiền nghi giả nhưng không tạm giữ;

+ Không lập biên bản hoặc thu giữ tiền giả, không đóng dấu, bấm lỗ theo quy định về xử lý tiền giả, tiền nghi giả khi thu giữ tiền giả hoặc tạm giữ tiền nghi giả.

- Ngoài ra,người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả như:

+ Tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm nêu trên, giao cơ quan có thẩm quyền xử lý;

+ Buộc đóng dấu, bấm lỗ tiền giả theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước về xử lý tiền giả, tiền nghi giả;

+ Buộc tiêu hủy toàn bộ tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm;

+ Buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Như vậy, quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả” sẽ không căn cứ vào trị giá tiền giả, mà chỉ căn cứ vào số lượng tờ, miếng. Ví dụ, nếu phát hiện 5 tờ tiền giả, mệnh giá mỗi tờ 2.000 đồng, tổng cộng 20.000 đồng, thì phải thông báo cho công an; nhưng nếu phát hiện 4 tờ tiền giả, mệnh giá mỗi tờ 500.000 đồng, tổng cộng 2.000.000 đồng, thì lại không bắt buộc phải thông báo cho công an.

Trong khi đó, việc xử phạt hình sự cũng về hành vi “tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả” (ngoài ra thêm một hành vi là làm tiền giả) thì lại quy định tình tiết định tội không căn cứ vào số lượng hay trị giá đồng tiền là bao nhiêu. Còn tình tiết định khung hình phạt cao hơn thì lại quy định tiền giả có trị giá tương ứng với các mức từ 5 triệu và 50 triệu đồng trở lên.

 

3.2. Trách nhiệm hình sự vi phạm về hành vi sử dụng tiền giả mua hàng hóa

Chịu trách nhiệm hình sự về Tội lưu hành tiền giả

Tại Điều 207 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có đưa ra quy định về hành vi làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả. Trong đó, hành vi sử dụng tiền giả mua hàng hóa được coi là hành vi lưu hành tiền giả. Do đó, hành vi sử dụng tiền giả để thanh toán là một hành vi bị cầm của pháp luật và bất cứ ai thực hiện hành vi này đều có thể truy tố trách nhiệm hình sự.

Hành vi sử dụng tiền giả thuộc vào hoạt động lưu hành tiền giả nên người thực hiện hành vi này sẽ bị áp dụng biện pháp xử phạt theo quy định pháp luật hình sự, cụ thể như sau:

- Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

- Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

- Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

- Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, căn cứ quy định trên đây thì người nào có hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả với số tiền bất kể là bao nhiêu thì đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả. Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả  phải chấp hành hình phạt chính, có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bên cạnh đó, đối tượng thực hiện hành vi sử dụng tiền giả mua hàng hóa còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự hiện hành, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Người phạm tội bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và thuộc vào một trong các trường hợp: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt.

Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

Đối tượng phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Ngoài ra, người phạm tội còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

4. Cá nhân sử dụng tiền giả để mua hàng hóa mà không biết có bị xử lý không?

Việc chứng minh một người sử dụng tiền giả có lỗi hay không có lỗi thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng. Tại Điều 10 và Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về cố ý phạm tội và vô ý phạm tội như sau:

- Cố ý phạm tội:

+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

- Vô ý phạm tội:

+ Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

+ Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Như vậy, nếu hành vi phạm tội với lỗi cố ý hoặc vô ý thì có thể chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hình sự. Ngược lại, nếu không có lỗi khi thực hiện hành vi này thì người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

5. Người mua tiền giả có bị xử lý theo quy định của pháp luật không?

Để có được tiền giả để thực hiện hành vi phạm pháp thì người sử dụng tiền giả có nhiều cách. Có thể là họ tự in ấn tiền giả hoặc họ mua bán tiền giả từ người khác, ... Vậy người mua tiền giả từ người khác có bị xử lý theo quy định pháp luật không?

Đối với hành vi mua tiền giả thì được chia làm hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Hành vi mua bán chưa hoàn thành và người mua chưa nhận được tiền giả

Điều 207 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 chỉ quy định về hành vi làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả. Do đó, nếu như hành vi mua bán chưa hoàn thành và người mua chưa nhận được tiền giả thì vẫn chưa đủ căn cứ để truy tố tội tàng trữ tiền giả. Vì vậy, trong trường hợp này có thể không bị truy tố trách nhiệm hình sự.

Trường hợp 2: Hành vi mua bán đã hoàn thành và người mua đã nhận được tiền giả

Giai đoạn này được xem là đủ cấu thành tội phạm theo Điều 207 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.