Vậy em muốn hỏi là bên cơ quan thi hành án có xuống đòi gia đình em 5. 000. 000 đồng nữa. Vậy em muốn hỏi là số tiền trên là tiền gì và gia đình em có bắt buộc phải nộp số tiền đó không. Nếu phải nộp gia đình em có nhất thiết phải nộp luôn không vì hiện tại gia đình em đang khó khăn về kinh tế.

Người gửi : BCK VLOG

Luật sư trả lời:Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Luật sư tư vấn pháp lý của công ty Luật Minh Khuê, sau thời gian nghiên cứu nội dung câu hỏi của bạn cùng với các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan Luật sư xin trả lời bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật dân sự năm 2015

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất:Căn cứ theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về xâm phạm tài sản người khác và phải bồi thường như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Vậy nên trong trường hợp này bố bạn buộc phải bồi thường lại tất cả số tiền đã chiếm đoạt của người bị hại, nhưng hiện nay gia đình bạn chưa có điều kiện để bồi hoàn lại số tiền đã chiếm đoạt nhưng nghĩa vụ của bố bạn trong việc bồi hoàn lại số tiền này là đầy đủ, tức là khi nào bồi hoàn đủ mới hết nghĩa vụ.

Thứ hai: Việc cơ quan chức năng đến nhà yêu cầu đưa 5.000.000 đồng là sự việc chưa được rõ ràng, Luật sư thấy được trong thông tin mà bạn đưa ra chưa thật khách quan, vậy nên để trả lời câu hỏi này cần phải căn cứ mà cơ quan chức năng thực hiện công việc này. Hiện tại chưa thể khẳng định việc này là đúng hay sai nên bạn cần bình tĩnh để xem xét vấn đề tránh hành động hoặc phát ngôn thiếu khách quan.

Thứ ba: Việc bố bạn phải thực hiện hoàn trả số tiền lại cho bên bị hại cũng là căn cứ bắt buộc để có thể thi hành hết nghĩa vụ kèm theo bản án từ đó có căn cứ để xóa án tích theo Điều 70 Bộ luật hình sự.

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê