1. Đã khắc phục toàn bộ hậu quả có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Khắc phục hậu quả đề cập đến việc giải quyết và khôi phục những tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp mà hành vi phạm tội đã gây ra, những tổn thất này không thể được đền bù hoặc khắc phục bằng cách khác. Ví dụ: Nếu trong trường hợp gây thương tích cố ý, người phạm tội tự nguyện chi trả một khoản tiền để hỗ trợ người bị hại hoặc đại diện của họ về chi phí chữa trị, hỗ trợ vật chất hoặc tinh thần, thì hành động này được coi là việc tự nguyện khắc phục hậu quả.

Đặc biệt, theo Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi năm 2017), quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự như sau:

(1) Người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:

- Trong quá trình điều tra, truy tố, hoặc xét xử, nếu có sự thay đổi trong chính sách hoặc pháp luật mà làm cho hành vi phạm tội không còn đe dọa đến xã hội nữa;

- Khi có quyết định đại xá.

(2) Người phạm tội cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau đây:

- Trong quá trình điều tra, truy tố, hoặc xét xử, nếu có sự biến động trong tình hình mà làm cho người phạm tội không còn đe dọa đến xã hội;

- Trong quá trình điều tra, truy tố, hoặc xét xử, nếu người phạm tội mắc bệnh nguy hiểm và không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội;

- Trước khi hành vi phạm tội được phát hiện, người phạm tội tự thú và mô tả chi tiết về sự kiện, góp phần quan trọng vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cũng như cố gắng giảm thiểu hậu quả của tội phạm. Nếu họ có đóng góp lớn hoặc có cống hiến đặc biệt và được Nhà nước và cộng đồng xã hội công nhận.

(3) Trong trường hợp người thực hiện tội phạm nghiêm trọng vô tình hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, nếu họ tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, hoặc khắc phục hậu quả và nếu bên bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ tự nguyện hòa giải và yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự, thì người đó mới có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

2. Đã khắc phục toàn bộ hậu quả có được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự?

Dựa vào khoản 1 của Điều 51 trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi năm 2017), các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm các điều kiện sau đây:

- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc giảm bớt tác hại của hành vi phạm tội;

- Người phạm tội tự nguyện thực hiện các biện pháp sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần bởi hành vi trái pháp luật của nạn nhân;

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không phải do bản thân gây ra;

- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn;

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

- Phạm tội do bị đe dọa hoặc cưỡng bức;

- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức không phải do lỗi của bản thân;

- Phạm tội do lạc hậu;

- Người phạm tội là phụ nữ mang thai;

- Người phạm tội đủ 70 tuổi trở lên;

- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

- Người phạm tội là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

- Người phạm tội tự thú;

- Người phạm tội có hành vi thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Vì vậy, nếu người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả, họ sẽ được xem xét là có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

3. Người phạm tội phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu thì mới được xem là “tự nguyện bồi thường thiệt hại”?

Trong nhiều vụ án hình sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội thường tự nguyện bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, mức độ bồi thường thiệt hại của họ trong từng trường hợp là đa dạng. Một số trường hợp cho thấy người phạm tội chỉ bồi thường một lượng thiệt hại không đáng kể, trong khi ở những trường hợp khác, họ có thể chi trả gần một nửa hoặc thậm chí nhiều hơn. Số tiền bồi thường thiệt hại cũng biến động đáng kể, ví dụ, có người phạm tội chỉ bồi thường 100% thiệt hại với số tiền là 2.100.000 đồng, trong khi người khác có thể chi trả chỉ 10% thiệt hại nhưng với một khoản tiền lớn là 100.000.000 đồng. Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ bồi thường thiệt hại cần thiết để áp dụng tình tiết "người tự nguyện bồi thường thiệt hại".

Có quan điểm cho rằng chỉ cần người phạm tội thể hiện thiện chí và tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội mà không cần xác định rõ mức độ bồi thường là đủ để áp dụng tình tiết "Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả." Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng nếu người phạm tội chỉ bồi thường một tỷ lệ thiệt hại không đáng kể so với tổng thiệt hại, ví dụ như 10 - 20%, thì không thể coi là họ đã tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại. Do đó, cần có quy định cụ thể về tỷ lệ phần trăm mức bồi thường thiệt hại mà người phạm tội đã thực tế chi trả. Đề xuất rằng tỷ lệ bồi thường này ít nhất là từ 50% trở lên để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của quy định này.

Quan điểm này phát sinh từ việc nghiên cứu và áp dụng nguyên tắc tương đương giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao về tình tiết "đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự," được quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự, mục 1, phần I, Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019. Theo giải đáp này, tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu như sau: “Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng án tử hình đối với người bị kết án về tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ, nếu sau khi bị kết án, họ đã trả lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô hoặc nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Tuy nhiên, đối với trường hợp áp dụng hình phạt như tù có thời hạn, tù chung thân, hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ, những loại hình phạt nhẹ hơn so với án tử hình, thì "đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự" quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đã bồi thường ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo án phán quyết của Tòa án. Trong trường hợp người bị kết án bồi thường một lượng ít hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo án, nhưng có văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác từ phía bị hại (được xác nhận bởi cơ quan có thẩm quyền), điều này cũng được coi là "đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự."

Bài viết liên quan: Khi căn cứ vào các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt cần lưu ý gì?

Trên đây là nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề đã khắc phục toàn bộ hậu quả có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!