1. Hành vi cấu thành tội vi phạm quy định PCCC

Tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy là một tội danh độc lập được quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy gồm:

- Về chủ thể: Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Cụ thể: Người phạm tội phải từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không nằm trong danh sách các tội mà người từ đủ 14 tuổi có thể chịu trách nhiệm hình sự theo và người phạm tội phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

- Về khách thể: Khách thể của tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy là trật tự an toàn công cộng, trật tự quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy và tính mạng, sức khỏe, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng. Cụ thể: Hành vi vi phạm có thể gây ra cháy nổ, gây thiệt hại về người và tài sản, ảnh hưởng đến trật tự an toàn công cộng; gây rối loạn trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực này; gây thiệt hại về người và tài sản, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng. Ví dụ: Hành vi không trang bị phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy theo quy định, hành vi cố ý gây cháy hoặc làm cháy xảy ra.

- Về mặt chủ quan: Mặt chủ quan của tội này thể hiện qua lỗi cố ý và vô ý: Cố ý trực tiếp tức là người vi phạm nhận thức đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Lỗi vô ý là do thiếu ý thức, chủ quan hoặc không lường trước được hậu quả xảy ra.

- Về mặt khách quan: Mặt khách quan của tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy thể hiện qua các hành vi cụ thể như: Không trang bị phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy theo quy định; Sử dụng, bảo quản, quản lý phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy không đúng quy định; Cố ý gây cháy hoặc làm cháy xảy ra; Không tổ chức tập huấn, diễn tập về phòng cháy chữa cháy; Cản trở việc chữa cháy; Các hành vi khác vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy.

 

2. Mức độ hình phạt đối với tội vi phạm quy định PCCC

Theo Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy được quy định như sau:

- Người nào có hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho người khác trong các trường hợp sau sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Người phạm tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 2 năm đến 12 năm tùy theo mức độ vi phạm.

- Ngoài ra, nếu hành vi vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả sau nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm: Làm chết 3 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản từ 1.500.000.000 đồng trở lên. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

 

3. Trường hợp được miễn, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi và bổ sung bởi khoản 1, khoản 2 Điều 2 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như sau:

- Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi có quyết định đại xá.

- Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa.
  • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
  • Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. 

 

4. Hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm quy định PCCC

- Khởi tố vụ án hình sự: Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tin báo về hành vi vi phạm quy định về PCCC từ các nguồn tin khác nhau như báo cáo của người dân, cơ quan, tổ chức hoặc qua phương tiện truyền thông. Cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ các thông tin ban đầu về hành vi vi phạm. Nếu có đủ căn cứ để xác định hành vi vi phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015.

- Điều tra vụ án hình sự: Cơ quan điều tra tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm quy định về PCCC, bao gồm lời khai của nhân chứng, tài liệu kỹ thuật về PCCC, và các chứng cứ vật chất khác. Tiến hành lập biên bản khám nghiệm hiện trường, xác định nguyên nhân và hậu quả của vụ việc. Tiến hành thẩm vấn, hỏi cung những người có liên quan, bao gồm cả người bị tố cáo và các nhân chứng. Sau khi thu thập đầy đủ chứng cứ, cơ quan điều tra kết thúc điều tra và lập kết luận điều tra, chuyển hồ sơ sang cơ quan truy tố.

- Truy tố và xét xử vụ án hình sự: Cơ quan công tố (Viện kiểm sát) xem xét hồ sơ điều tra và ra quyết định truy tố nếu có đủ căn cứ xác định tội phạm. Tòa án nhận hồ sơ từ cơ quan công tố và chuẩn bị cho việc xét xử. Bao gồm việc triệu tập bị cáo, nhân chứng và các bên liên quan. Tòa án tiến hành phiên tòa sơ thẩm để xét xử bị cáo về tội vi phạm quy định về PCCC. Tại phiên tòa, các bên trình bày chứng cứ, lập luận và Tòa án đưa ra phán quyết. Nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét lại bản án sơ thẩm.

- Thi hành án hình sự: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án ra quyết định thi hành án đối với bị cáo. Cơ quan thi hành án hình sự thực hiện việc áp dụng các hình phạt như cải tạo không giam giữ, phạt tù, phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Cơ quan thi hành án giám sát việc chấp hành hình phạt của bị cáo, đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ của người chấp hành án được tuân thủ đúng theo quy định pháp luật. Sau khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt, cơ quan thi hành án xác nhận việc chấp hành án và ra quyết định kết thúc thi hành án.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy điều 313 Luật Hình sự. Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 để được hỗ trợ. Trân trọng!