1. Hình phạt theo luật hình sự với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Luật hình sự năm 1999 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015) quy định về Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại điều 171 với nội dung cụ thể như sau:

Điều 171, luật hình sự năm 1999 quy định, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 điều chỉnh một số nội dung trong điều 171, luật hình sự năm 1999 cụ thể như sau:

Điều 171 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 171. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo luật hình sự

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

------------------------------------------------------------

PHÂN TÍCH & BÌNH LUẬN VỀ TỘI DANH XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP.

Điều 171 BLHSnăm 1999 chưa sửa đổi, bổ sung quy định chỉ xử lý hình sựđối với hành vi xâm phạm quyền SHCN trong trường hợp hành vi này thực hiện vì mục đích kinh doanh và gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người vi phạm đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà còn vi phạm. Tuy nhiên, theo yêu cầu của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và TRIPS thì các nước thành viên có nghĩa vụ quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dùng ít nhất đối với các trường hợp cố ýlàmgiả nhãn hiệu hàng hoá nhằm mục đích thương mại (BTA) hoặc cố ý giả mạo nhãn hiệu hàng hoá với quy mô thương mại (TRIPS). Yếu tố quy mô thương mại chưa được giải thích một cách chính thức tại một chuẩn mực quốc tế nào, tuy nhiên, như đã nói trên, quy mô thương mại cóthể được hiểu là nhằm mục đích kinh doanh và hàng hoá vi phạm được đưa ra thị trường với số lượng lớn hoặc người vi phạm thu lời bất chính lớn từ việc kinh doanh này. Nếu hiểu được như thế thì yếu tố quy mô thương mại đã bao gồm cả mục đích thương mại.Đồng thời, xuất phát từ quan điểm việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu được thực hiện bằng các biện pháp pháp luật dân sự và hành chính, còn biện pháp hình sự chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp, trong trường hợp thật cần thiết khi vi phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, quy mô vi phạm xảy ra lớn, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã sửa đổi cấu thành của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171 BLHS) theo hướng thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý về hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN cả về đối tượng SHCN lẫn tính chất, mức độ và quy mô vi phạm. Cụ thể, chỉ xử lý về hình sự hành vi cố ý xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại; trường hợp vi phạm chưa thuộc phạm vi "quy mô thương mại" thì áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính để xử lý. Như vậy, các hành vi phạm tội xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác (ngoài nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý) theo quy định tại Điều 171 BLHS năm 1999 đã được phi hình sự hoá để xử lý bằng các biện pháp khác.

Ngoài ra, Điều 14 của BTA và Điều 61 của TRIPS yêu cầu các nước thành viên phải quy định các hình phạt tù hoặc phạt tiền hoặc cả hai đủ để ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền SHCN, phù hợp với mức hình phạt áp dụng đối với tội danh có mức độ nghiêm trọng tương ứng. Do đó, để đáp ứng yêu cầu nói trên và xem xét đến những thiệt hại kinh tế mà hành vi xâm phạm quyền SHCN có thể gây ra, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã tăng mức phạt tiền tại khoản 1 và khoản 3 và bổ sung phạt tiền vào khoản 2 Điều 171 BLHS.
Tuy đã sửa đổi, bổ sung nhưng quá trình nhận định, đánh giá những quy định của Điều 171 BLHS vẫn còn gặp những khó khăn, vướng mắc cần phải nhanh chóng khắc phục:

Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định “quy mô thương mại”. Hiện nay, khái niệm này vẫn chưa được quy định trong BLHS, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành. Vì vậy, khi vận dụng các quy định của Điều 171, các cơ quan tiến hành tố tụng khó có thể áp dụng thống nhất và dẫn đến tình trạng mỗi cơ quan hiểu nội hàm của khái niệm “quy mô thương mại” theo những cách khác nhau.
Thứ hai, về quy định tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và các tội về sản xuất, buôn bán hàng giả(Điều 156: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng trong chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi). Các quy định pháp luật hình sự hiện hành chưa làm rõ được sự khác biệt giữa tội xâm phạm quyền SHCN và tội sản xuất và buôn bán hàng giả, trong đó, vấn đề mấu chốt là chưa quy định sự khác biệt giữa hàng giả và hàng xâm phạm quyền SHCN.

Theo Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000 của Bộ thương mại, Tài chính, Công an, Khoa học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng giả gồm có: Hàng giả về nội dung (giả về chất lượng hoặc công dụng) thường là những hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với tên gọi, công dụng của nó, không đảm bảo tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm đã được quy định; Hàng giả về hình thức là hàng giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; Hàng giả cả về nội dung và hình thức.Mặc dù không có quy định cụ thể, tuy nhiên có thể hiểu hàng xâm phạm quyền SHCN là hàng có được từ những hành vi sử dụng trái phép các đối tượng của quyền SHCN (nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý).Rõ ràng, quy định của pháp luật hiện hành về hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có một bộ phận trùng nhau. Đó là trường hợp hàng giả về hình thức và hàng xâm phạm quyền sở hữu SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý.Việc áp dụng tội danh nào ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người phạm tội và cả chủ sở hữu đối tượng SHCN.Nếu nhầm lẫn giữa hai điều luật này vô cùng nguy hiểm, có thể dẫn đến hệ quả là tăng hình phạt cho người phạm tội hoặc giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội. Thực tiễn cho thấy, mặc dù trong nhiều trường hợp, hành vi thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của tội xâm phạm quyền SHCN nhưng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại truy tố, xét xử theo tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Hoặc ngược lại, hành vi đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của các tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhưng chỉ bị xử lý theo tội xâm phạm quyền SHCN.

Thứ ba, BLHSchỉ cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân. Trong khi đó, chủ thể thực hiện các hành vi xâm phạm quyền SHCN thường do các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nên trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, không thể xử lý hình sự đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm được.

Thứ tư,Khoản 1, Điều 105, BLTTHS năm 2003 quy định: “Những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”. Như vậy, các hành vi xâm phạm quyền SHCN tuy đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chỉ bị khởi tố khi có yêu cầu của chủ sở hữu đối tượng SHCN. Lợi dụng quy định này, các đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHCN khi bị phát hiện thì sử dụng thủ đoạn thỏa thuận, mua chuộc các chủ sở hữu đối tượng SHCN để họ không yêu cầu khởi tố vụ án. Điều này đã tạo ra tâm lý ức chế cho các cán bộ đã tiến hành phát hiện, điều tra, khám phá các hành vi trên, đồng thời không đảm bảo tính răn đe của pháp luật. Ngoài ra, trong thực tế có nhiều trường hợp không thể xử lý hình sự các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với các nhãn hiệu nổi tiếng do các chủ các nhãn hiệu này không có văn phòng đại diện ở Việt Nam, khó khăn trong việc liên lạc với chủ sở hữu hợp pháp của các nhãn hiệu này.

Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng Điều 171 Bộ luật hình sự, cần tiến hành các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần quy định rõ nội hàm của cụm từ “quy mô thương mại” để các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng một cạch thống nhất.Khái niệm xâm phạm với “quy mô thương mại” là một khái niệm được TRIPs và HĐTM sử dụng.“Quy mô thương mại” (commercial scale) là cụm từ được Điều 61 của TRIPs sử dụng.“Quy mô thương mại” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được diễn giải bởi các quốc gia để bao gồm các hành vi khác nhau. Nhìn chung xâm phạm với “quy mô thương mại” nên được hiểu là các hành vi được thực hiện một các có chủ ý nhằm mục đích sinh lợi, không kể giá trị của vi phạm;hoặc những hành vi tuy không nhằm mục tiêu sinh lợi nhưng gây ảnh hưởng lớn đến quyền khai thác tài sản trí tuệ của chủ thể quyền.

Thứ hai, ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT cho phù hợp với những quy định mới của Bộ luật hình sự và Luật sở hữu trí tuệ, giải quyết việc trùng lẫn giữa phạm vi điều chỉnh của Điều 156,157, 158 và Điều 171 đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. Cần phải phân định rạch ròi hai tội danh vì hai tội danh này rất khác nhau về thủ tục tố tụng và mức hình phạt. Về thủ tục tố tụng, nếu xác định người phạm tội thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, về nguyên tắc, cơ quan chức năng có quyền tiến hành khởi tố vụ án hình sự ngay sau khi phát hiện ra hành vi phạm tội và yêu cầu chủ sở hữu đối tượng SHCN tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại. Còn nếu xác định ngừơi phạm tội đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHCN, theo Khoản Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự, các cơ quan chức năng chỉ có thể khởi tố vụ án khi có yêu cầu từ phía chủ sở hữu đối tượng SHCN. Về mức hình phạt, nếu người phạm tội bị xử lý theocác tội sản xuất và buôn bán hàng giả, mức hình phạt cao nhất là tử hình (khoản 4 Đ157); trong khi đó nếu bị xử lý theo tội xâm phạm quyền SHCN, mức hình phạt tù cao nhất chỉ là 3 năm tù giam.

Thứ ba, thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vixâm phạm quyền SHCN của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc thực thi các quy định của Điều 171 mà còn có mở rộng phạm vi xử lý đối với các tội phạm về môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao…
Thứ tư, sửa đổi Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng có thể khởi tố các hành vi xâm phạm quyền SHCN mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại. Qua đó, đảm bảo được tính răn đe của pháp luật, bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ sở hữu đối tượng SHCN và của người tiêu dùng.

Tóm lại, với những điểm mới và tiến bộ của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự thì những quy định về tội danh và hình phạt trong Điều 171 Bộ luật hình sự đã đáp ứng ngày càng tốt hơn những yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới hiện nay. Tuy nhiên, để Bộ luật hình sự ngày càng hoàn thiện, có tính khả thi cao trong quá trình áp dụng vào thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm từ đó tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho xã hội thì vấn đề cần tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung tội phạm và hình phạt trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự là vấn đề vô cùng cần thiết và cấp bách. Trên đây là một số vấn đề vướng mắc, bất cập và hướng giải quyết trong thực tiễn áp dụng những quy định của Điều 171 Bộ luật hình sự cần tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung.

------------------------------------------------------------------------

Thông tin pháp lý liên quan đến tội danh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo điều 171 luật hình sự năm 1999.

Bị phạt 50 triệu đồng vì xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Theo báo Công an nhân dân: Ngày 21/2/2014, TAND TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ Phùng Quốc Quyền (42 tuổi, ngụ quận 11, TP Hồ Chí Minh) về tội “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.

Kết thúc phiên tòa, HĐXX đã áp dụng hình thức phạt tiền, phạt bị cáo Quyền 50 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.

Theo cáo trạng, ngày 11/1/2013, Công an quận 11 kiểm tra hành chính cửa hàng kinh doanh mua bán thiết bị vệ sinh Hữu Thành tại số 175 Tạ Uyên, quận 11 do Phùng Quốc Quyền làm chủ. Qua kiểm tra, CQĐT phát hiện nơi đây chứa 2.498 sản phẩm phụ kiện, thiết bị vòi nước giả nhãn hiệu “L, INAX”.

Ngoài ra, dữ liệu lưu trữ trong máy tính của Quyền còn thể hiện trước đó cửa hàng này đã bán ra thị trường 95 sản phẩm thiết bị nhãn hiệu “L, INAX”, trị giá 71 triệu đồng. Theo giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa thì nhãn hiệu “L, INAX” đã được công nhận bảo hộ tại VN. Đến cuối tháng 3/2013, đại diện sở hữu nhãn hiệu “L, INAX” của Công ty TNHH Lixil Inax VN có công văn yêu cầu xử lý đối với Quyền về hành vi giả nhãn hiệu trên.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư bào chữa tại tòa án

2. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp ở nước ta hiện nay

Chúng ta đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) các hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ, tính cạnh tranh của hàng hoá trong nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi chúng ta phải có nhiều biện pháp để thúc đẩy, giúp đỡ sản xuất trong nước mà không vi phạm về bảo hộ sản xuất theo các quy định của WTO.

Ngoài các biện pháp như thắt chặt hơn nữa quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật của hàng hoá nước ngoài được lưu thông tại Việt Nam; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo sự thông thoáng về hàng lang pháp lý để thúc đẩy sản xuất trong nước; cung cấp thông tin kịp thời và dự báo chính xác xu hướng sự phát triển của thị trường, đẩy mạnh mở rộng, tìm kiếm thị trường mới... Theo chúng tôi còn có một biện pháp rất cấp thiết và hữu hiệu đó là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp (SHTT, SHCN) cho các doanh nghiệp trong nước.

Từ trước đến nay, nhiều người vẫn còn quan niệm rằng những hàng hoá được sản xuất ở nước ngoài đều tốt, đều hiện đại và đẹp. Quan niệm này chỉ đúng cách đây 20 năm, còn bây giờ quan niệm này chỉ đúng một phần và ngày càng “sai” dần đi. Sau khi nước ta mở cửa, hội nhập và thu hút đầu tư nước ngoài, lực lượng sản xuất trong nước được cởi trói thì nhiều loại hàng hoá sản xuất trong nước rất tốt, giá rẻ và kiểu dáng, mẫu mã ngày càng đẹp, không những dần chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài, nhất là các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ quyền SHTT, SHCN là rất cấp thiết và quan trọng. Có thể nói rằng đây là nhân tố có ý nghĩa sống còn đối với rất nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước. Việc các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài đánh cắp bản quyền, đăng ký bản quyền của các thương hiệu nỗi tiếng của doanh nghiệp trong nước ngày càng nhiều, khiến rất nhiều doanh nghiệp phải lao đao. Đặc biệt, khi ở thành phố Hồ Chí Minh đã đưa lên sàn giao dịch đấu giá các ý tưởng trí tuệ thì việc bảo vệ quyền SHTT, SHCN là yêu cầu cấp bách, càn phải làm ngay và phải làm thật tốt.

Thực thi quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp ở nước ta: Tại sao các cơ quan chức năng vẫn còn thờ ơ ?

Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 0986.386.648

Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền SHTT, SHCN ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn mang tính hình thức, đối phó, nhất là từ phía các cơ quan có trách nhiệm, như Tổng cục Hải quan (BTC), Cục sở hữu trí tuệ (Bộ KHCN), Cục Quản lý thị trường (Bộ TM), Cục cảnh sát kinh tế (Bộ CA)... Việc ngăn chặn các hàng hoá có xuất xứ nước ngoài vi phạm bản quyền SHTT, SHCN tại nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng:

Trước hết, nó giúp doanh nghiệp trong nước tăng cường được khả năng cạnh tranh, khả năng sản xuất giúp doanh nghiệp trong nước đứng vững và phát triển. Vì việc bị xâm phạm bản quyền, SHTT, SHCN ngay trên sân nhà sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, thị phần, thương hiệu của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu lớn.

Thứ hai, giúp làm cho thị trường hàng hoá trong nước lành mạnh hơn, cạnh tranh công bằng hơn, hạn chế và tránh được hàng giả, hàng kém chất lượng đang ngày càng nhiều, không kiểm soát nỗi như hiện nay.

Thứ ba, góp phần tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài khi vào làm ăn, buôn bán ở nước ta. Việc này không chỉ chứng minh rằng chúng ta không những bảo vệ được quyền SHTT, SHCN của các doanh nghiệp trong nước mà còn có thể bảo vệ tốt quyền SHTT, SHCN của cả đối với doanh nghiệp nước ngoài.

Để thực thi quyền SHTT, SHCN theo chúng tôi cần thực hiện tốt các biện pháp sau đây:

Thứ nhất, cần ban hành các quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch, chi tiết về quyền SHTT, SHCN. Đồng thời, tập huấn, phổ biến rộng rãi cách thức bảo vệ quyền SHTT, SHCN cho các doanh nghiệp, cơ quan chức năng như Hải quan, Quản lý thị trường, công an kinh tế... Để khi có vụ việc vi phạm các doanh nghiệp có thể làm thủ tục yêu cầu các cơ quan chức năng can thiệp. Thí dụ, doanh nghiệp cần phải làm thủ tục gì, làm như thế nào để yêu cầu cơ quan Hải quan không thông quan hàng hoá nhập khẩu của nước ngoài khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm SHTT, SHCN của doanh nghiệp Việt Nam (ngăn chặn từ biên giới - đây là biện pháp hiệu quả nhất).

Thứ hai, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, nhất là các quy định của pháp luật cho đội ngũ làm công tác bảo vệ quyền SHTT, SHCN như nhân viên hải quan, quản lý thị trường, công an kinh tế… nhằm triển khai tốt hơn công tác này. Vì đội ngũ này rất quan trọng không những bảo vệ tốt quyền SHTT, SHCN mà còn xử lý tốt các trường hợp lợi dụng, vì mục đích không lành mạnh gây thiệt hại cho các doanh nghiệp nước ngoài làm giảm uy tín của hệ thống pháp luật nước ta.

Thứ ba, tuyên truyền, vận động người tiêu dùng không sử dụng, tiêu dùng những hàng hoá vi phạm quyền SHTT, SHCN cả đối với doanh nghiệp trong và ngoài nước. Bện cạnh đó, cần tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm và học tập cả cách thức bảo vệ quyền SHTT, SHCN ở các nước tiên tiến, đi trước và có các đặc điểm tương đồng như nền kinh tế Việt Nam.

Thiết nghĩ, nếu chúng ta xác định rõ vai trò, ý nghĩa và thực hiện tốt các biện pháp nhằm thực thi quyền SHTT, SHCN sẽ góp phần tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước, giảm nguy cơ tụt hậu, chậm phát triển khi tham gia vào nền kinh tế thế giới./.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

3. Qui định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 97/2010/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.Ngày 21/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 97/2010/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Theo đó, các hành vi vi phạm sẽ được xử lý bởi 1 trong các hình thức sau:

- Cảnh cáo.

- Phạt tiền (lên tới tối đa 500 triệu đồng).

Ngoài ra còn có thể áp dụng hình phạ bổ sung như : tịch thu tang vật, tước quyền sử dụng, tạm đình chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh…

Chưa hết, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc cùng lúc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như : loại bỏ, tiêu hủy, sửa chữa yếu tố vi phạm trên hàng hóa, sản phẩm, buộc cải chính công khai, buộc thu hồi tang vật …

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 0986.386.648

Luật sư Lê Minh Trường tham gia chương trình 60 phút mở trên VTV6

Nghị định 97/2010 qui định về nhiều nội dung như:

- Xác định giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm.

- Xác định các hình thức vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

- Mức độ và thủ tục xử phạt.

- Thẩm quyền ra quyết định xử phạt.

- Biện pháp ngăn chặn …

Nghị định 97/2010 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/11/2010 và thay thế Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006.

* Nghị định 97/2010/NĐ-CP : Xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp

Liên hệ sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 0986.386.648

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Tư vấn thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

4. Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp như thế nào ?

Về mặt bản chất, cơ chế bảo hộ sở hữu công nghiệp được thiết lập nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong qúa trình kinh doanh, trước hết là trong hoạt động sản xuất và thương mại. Trong các hoạt động đó, các doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp. Bởi vậy, hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp trước hết cũng nhằm phục vụ cho các doanh nghiệp và được tiến hành bởi các doanh nghiệp.

I. Ý nghĩa, vai trò của sở hữu công nghiệp đối với doanh nghiệp

1. Doanh nghiệp là chủ thể của hoạt động sở hữu công nghiệp

Về mặt bản chất, cơ chế bảo hộ sở hữu công nghiệp được thiết lập nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong qúa trình kinh doanh, trước hết là trong hoạt động sản xuất và thương mại. Trong các hoạt động đó, các doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp. Bởi vậy, hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp trước hết cũng nhằm phục vụ cho các doanh nghiệp và được tiến hành bởi các doanh nghiệp. Nói cách khác, doanh nghiệp là các chủ thể quan trọng nhất của hoạt động sở hữu công nghiệp.

2. Ý nghĩa, vai trò của sở hữu công nghiệp đối với hoạt động của doanh nghiệp

Theo Luật định, với các doanh nghiệp việc đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp là không bắt buộc. Việc có đăng ký hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì lợi ích của mình doanh nghiệp cần quan tâm đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp mà mình có. Khi tạo ra một sáng chế/giải pháp hữu ích, một kiểu dáng công nghiệp hay sử dụng một nhãn hiệu doanh nghiệp có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ đối tượng đó và khi được cấp văn bằng bảo hộ, đối tượng đó trở thành tài sản của doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp không nộp đơn yêu cầu bảo hộ, nếu có người khác cũng tạo ra hay sử dụng đối tượng tương tự, thì người đó có thể đăng ký để trở thành chủ sở hữu, quyền của doanh nghiệp bị thu hẹp hoặc bị phủ định hoàn toàn bởi người được cấp văn bằng bảo hộ.

Một hệ thống sở hữu công nghiệp đầy đủ, có hiệu qủa sẽ tạo ra những lợi ích tiềm tàng đối với việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh và phát triển cho các doanh nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh thị trường ngày càng khốc liệt, để đáp ứng cho một nhu cầu nhất định của xã hội, rất nhiều doanh nghiệp đều cố gắng đáp ứng bằng các sản phẩm của mình, trong cuộc chiến đó người chiến thắng sẽ là người đưa ra được hàng hóa phù hợp nhất (có chất lượng tốt nhất, kiểu dáng đẹp, hấp dẫn và gía rẻ nhất). Việc tạo ra các giải pháp công nghệ mới đạt trình độ sáng chế và tạo ra các kiểu dáng công nghiệp có khả năng được bảo hộ sẽ giúp doanh nghiệp có được những hàng hóa như vậy. Vị thế của hàng hóa sẽ được khẳng định và được thị trường nhận biết, phân biệt thông qua nhãn hiệu của hàng hóa đó. Vì vậy, cho dù doanh nghiệp không đăng ký (hoặc không quan tâm đến việc đăng ký) quyền sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp vẫn phải có nghĩa vụ tôn trọng, không xâm phạm tới các quyền sở hữu công nghiệp của các chủ thể khác đã được pháp luật bảo hộ. Điều đó có nghĩa là tôn trọng quyền sở hữu công nghiệp của chủ thể khác là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp hay nói cách khác mọi hoạt động của doanh nghiệp ở bất cứ thị trường nào cũng phải đảm bảo không vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của người khác. Doanh nghiệp cần biết rằng mọi hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp dù vô tình hay cố ý đều có thể bị phát hiện và bị xử lý theo pháp luật.

II.Thiết lập, quản lý các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp

1.Các đối tượng sở hữu công nghiệp gồm tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn…

2.Xây dựng các đối tượng sở hữu công nghiệp

Các đối tượng sở hữu công nghiệp trên đây đều có thể là bộ phận cấu thành tài sản của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch thiết lập và phát triển chúng.

- Tên thương mại: từ định nghĩa tên thương mại trên đây, có thể coi tên thương mại là phương tiện giao tiếp đầu tiên giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác. Vì vậy, ngay từ khi mới thành lập, doanh nghiệp cần chú trọng đến việc lựa chọn và thiết kế đối tượng nầy.

- Nhãn hiệu: Giống như tên thương mại, nhãn hiệu cũng là phương tiện giao tiếp giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác. Tuy nhiên vai trò quan trọng hơn của nhãn hiệu là công cụ có tác dụng trực quan đến người tiêu dùng, giúp họ nhận biết hàng hóa của doanh nghiệp trước tiên thông qua thị giác hoặc thính giác, thiết kế một nhãn hiệu tốt là thiết kế một nhãn hiệu có tính thu hút về trình bày, tính đặc trưng cao và thuận lợi cho việc quãng cáo, mặt khác phải đáp ứng các quy định của pháp luật về các dấu hiệu không được sử dụng làm nhãn hiệu và không xung đột với một nhãn hiệu đã được bảo hộ trước đó.

Ngoài ra các yêu cầu giống như đối với tên thương mại, việc thiết kế, xây dựng nhãn hiệu cần lưu ý:

Một doanh nghiệp có thể có nhiều nhãn hiệu (dùng cho các loại hàng hóa khác nhau hoặc dùng cho các thị trường khác nhau). Tuy nhiên, với các nhãn hiệu đã được sử dụng lâu dài do đó đã chiếm lĩnh vị trí trên thị trường và trong tâm trí người tiêu dùng thì nên giữ gìn và tập trung phát huy vai trò các nhãn hiệu đó mà không thay thế bằng nhãn hiệu khác.

- Kiểu dáng công nghiệp, sáng chế/GPHI: Việc tạo ra các giải pháp công nghệ mới và các giải pháp tạo dáng sẽ giúp các doanh nghiệp có được hoặc các sản phẩm mới, các công nghệ mới. Việc sáng tạo đó cần phải đáp ứng các yêu cầu để được bảo hộ theo luật định và tăng tính cạnh tranh. Để công việc sáng tạo được tiến hành có hiệu qủa, nhất thiết phải thực hiện các công việc sau:

Nghiên cứu thị trường là một bước rất quan trọng và không thể kinh doanh nếu không rõ thị trường mà mình thực hiện kinh doanh, các đối tượng kinh doanh, người mua và các đối thủ. Tuy nhiên, nghiên cứu thị trường ở đây nhằm tìm ra được nhu cầu giải quyết và bài toán phải đặt ra cho phát triển sáng tạo kỹ thuật cho doanh nghiệp: Cái gì cần cải tiến và cái gì cần sáng tạo mới.

Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu trình độ công nghệ của lĩnh vực công nghệ, trên cơ sở nghiên cứu Patent, trên cơ sở nhu cầu và thông tin thu thập được, các nhóm nghiên cứu của doanh nghiệp thực hiện sự sáng tạo của mình như một nhiện vụ được giao, doanh nghiệp cũng có thể yêu cầu các thành viên của mình tự tìm ra giải pháp như một công việc làm ngoài giờ đặt hàng cho bên ngoài tìm ra giải pháp.

3. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp:

a. Nắm vững các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp: Các vấn đề liên quan đến.

- Quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp;

- Các đối tượng bị loại trừ khỏi phạm vi bảo hộ đối với từng loại đối tượng;

- Các yêu cầu về hình thức và nội dung đơn yêu cầu bảo hộ;

- Thủ tục nộp đơn;

- Trình tự, thủ tục xử lý đơn yêu cầu bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền, trong đó đặc biệt lưu ý tới các quy định về thời hạn và lệ phí.

b. Cân nhắc trước khi quyết định có nộp đơn hay không, dự định chi phí cho việc nộp đơn.

c. Làm đơn yêu cầu bảo hộ:

Tờ khai xin cấp văn bằng bảo hộ là một trong các tài liệu quan trọng nhất, bắt buộc phải có của bất kỳ loại đơn yêu cầu bảo hộ nào. Các thông tin chứa trong tờ khai được coi là thông tin gốc để đối chiếu với các thông tin cùng loại ghi trong các tài liệu khác của đơn và là cơ sở xác định các yếu tố pháp lý liên quan tới quyền sở hữu công nghiệp sẽ được thừa nhận. Vì vậy cần đặc biệt chú ý khi lập tờ khai.

d. Nộp đơn đăng ký và theo dõi kết qủa xử lý đơn:

Doanh nghiệp có thể tự làm và nộp đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp hoặc có thể thông qua người đại diện sở hữu công nghiệp để làm và nộp đơn đăng ký. Sau khi nộp đơn đăng ký, doanh nghiệp cần theo dõi kết qủa xử lý đơn của Cục Sở hữu Trí tuệ qua các kết qủa xét nghiệm hình thức và nội dung và thực hiện các yêu cầu sửa đổi bổ sung theo yêu cầu của Cục Sở hữu Trí tuệ.

III. Sử dụng khai thác quyền sở hữu công nghiệp

1. Sử dụng, khai thác đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ

Khi sử dụng, khai thác quyền sở hữu công nghiệp, tức là tiến hành sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ. Luật pháp đã quy định rõ ràng, cụ thể khái niệm sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thuộc độc quyền của chủ sở hữu. Doanh nghiệp có thể trực tiếp sử dụng, khai thác đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc ủy quyền cho người khác tiến hành sử dụng, khai thác. Nếu ủy quyền cho người khác khai thác, cần phải lập văn bản ủy quyền chặt chẽ và hợp pháp, trong đó phải nêu đầy đủ các điều kiện mà người được ủy quyền phải tuân thủ.

2. Chuyển giao, chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp

Doanh nghiệp có thể tham gia các quan hệ trao đổi, chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp với người khác, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò bên giao hoặc bên nhận. Việc chuyển nhượng có thể gồm hai dạng; chuyển giao quyền sử dụng và chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp;

Khi chuyển giao quyền sở hữu, chủ văn bằng bảo hộ trao cho bên nhận quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp của mình để đổi lấy một khoản tiền nhất định và khi đó bên nhận trở thành chủ văn bằng bảo hộ. Việc chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cũng phải được thực hiện thông qua một hợp đồng bằng văn bản và phải được đăng ký tại Cục Sở hữu Trí tuệ.

IV. Giám sát, bảo vệ các quyền sở hữu công nghiệp

Như đã đề cập ở trên, hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp ngày nay được tiến hành trong môi trường mà ở đó ngày càng nhiều đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ. Bởi vậy, khi mà chủ sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp phải tự mình theo dỏi, kiểm tra, bảo vệ quyền của mình.

V. Tổ chức và khai thác thông tin sở hữu công nghiệp

1. Vai trò, ý nghĩa của thông tin sở hữu công nghiệp đối với doanh nghiệp

Để tồn tại và phát triển được trong môi trường kinh doanh mà sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, donh nghiệp bắt buộc phải thích nghi với hoàn cảnh mới, có nghĩa là họ phải thay đổi phương thức quản lý, cải tiến và áp dụng công nghệ mới, cải tiến chất lượng công việc và sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường tìm kiếm thị trường và các cơ hội kinh doanh mới.

2. Tư liệu sở hữu công nghiệp

Để khuyến khích sáng tạo, thúc đẩy sản xuất và tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng và hiệu qủa, và để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá nhân, đơn vị; Khuyến khích cạnh tranh trung thực trong công nghiệp và thương mại, các quốc gia đều phải có luật để bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp.

3. Khai thác, sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp

Trước khi chuẩn bị nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ hoặc chuẩn bị sản xuất và đưa ra thị trường một sản phẩm mới, doanh nghiệp phải tra cứu Patent để xem là liệu sản phẩm đó có bị vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức cá nhân khác không. Việc tra cứu Patent nên được tiến hành theo một số giai đoạn như giai đoạn phát triển công nghệ, giai đoạn phát triển sản phẩm rồi đến giai đoạn Maketing nhằm thực sự đưa các sản phẩm nầy xâm nhập vào thị trường. Hoặc trước khi xuất khẩu hàng hóa đến một thị trường nào đó, doanh nghiệp phải tiến hành tra cứu Patent đồng dạng, tra cứu tìng trạng pháp lý về quyền sở hữucông nghiệp khẳng định xem liệu các quyền Patent có bị vi phạm hay mất hiệu lực vì các lý do theo luật định hoặc do không nộp lệ phí hàng năm hay không, hoặc người sở hữu Patent có bị thay đổi hay không.

VI. Tổ chức hoạt động sở hữu công nghiệp tại doanh nghiệp

1. Bố trí cán bộ hoặc bộ phận chuyên trách về sở hữu công nghiệp

Sở hữu công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của nhiều loại hình doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nầy có quy mô khác nhau, từ quy mô rất nhỏ, kể cả các cơ sở chỉ có một người, đến các Cty xuyên Quốc gia khổng lồ với hàng chục, hàng trăm nghìn công nhân. Những doanh nghiệp lớn nói chung có các phòng, ban chuyên trách về phát triển và thực hiện chiến lược về sở hữu công nghiệp. Các phòng ban chuyên trách này có thể bao gồm đội ngũ nhân viên với đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết cho phép doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu qủa. Họ có thể là các luật sư, các kỹ sư, các nhà khoa học, nhà kinh tế, các chuyên gia nghiên cứu thị trường…Đối với doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ thì cũng phải có một bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách về vấn đề sở hữu công nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách đào tạo nhân lực cho hoạt động này.

2. Xây dựng và thực hiện chiến lược về sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp

Khi xây dựng và thực hiện chiến lược về sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp cần phải xem xét một cách cẩn thận có hệ thống các mục tiêu, nhiệm vụ, mục đích kinh doanh cũng như xem xét cẩn thận tác động của hệ thống sở hữu công nghiệp và có tính toán cẩn thận chính là điểm khác nhau giữa sự thành công và thất bại của doanh nghiệp. Có thể đưa ra được một chiến lược phù hợp với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp nếu những người quản lý doanh nghiệp biết tiếp cận có bài bản đồng thời có cam kết rõ ràng đối với việc thực hiện chiến lược đó. Một doanh nghiệp lần đầu tiên mới bắt đầu xây dựng chiến lược phát triển sở hữu công nghiệp nên sử dụng các nguồn trợ giúp từ các tổ chức tư vấn có kỹ năng và kinh nghiệm trong hoạt động nầy.

Tóm lại, để tránh các hậu qủa pháp lý do vô tình hay cố ý sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của người khác, trong hoạt động của mình doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật các thông tin sở hữu công nghiệp ở Việt nam và ở vùng lãnh thổ khác nơi mà doanh nghiệp tiến hành kinh doanh như các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp, Công báo sở hữu công nghiệp do cục SHCN ấn hành, cơ sở dữ liệu nhãn hiệu do Cục SHCN ấn hành và cơ sở Petent thuộc lĩnh vực kỹ thuật mà hoạt động của doanh nghiệp có liên quan…

Luật Minh Khuê (biên tập)