- 1. Khái niệm pháp nhân thương mại
- 2. Pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi nào?
- 3. Tổng hợp các tội pháp nhân thương mại bị truy cứu hình sự
- 4. Hình phạt đối với pháp nhân thương mại khi pháp nhân thương mại phạm tội.
- 4.1 Hình phạt chính
- 4.2 Hình phạt bổ sung
- 4.3 Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội
1. Khái niệm pháp nhân thương mại
Căn cứ theo quy định theo điều 74 của Bộ luật dân sự hiện hành năm 2015. Theo đó pháp nhân có thể được hiểu là một tổ chức có tư cách pháp lý độc lập, có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, xã hội… theo quy định của pháp luật. Và một tổ chức muốn được công nhận là pháp nhân thì bắt buộc phải có đủ các điều kiện về thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức; tài sản phải độc lập với pháp nhân, cá nhân khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản; phải tham gia quan hệ pháp luật độc lập theo đúng quy định. Tuy nhiên, không phải loại hình doanh nghiệp nào khi nhận được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh từ cơ quan có thẩm quyền cũng được công nhận là pháp nhân.
Ví dụ như Doanh nghiệp tư nhân được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh từ Sở kế hoạch đầu tư theo đúng quy định nhưng không được Luật Doanh nghiệp công nhận là pháp nhân, vì nó chưa đáp ứng được các quy định trong bộ luật Dân sự. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận đạt được sẽ được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại là các công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã,...Pháp nhân thương mại được thành lập, hoạt động và chấm dứt theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Lưu ý: Các pháp nhân thương mại có thể tổn tại dưới các tên gọi khác nhau về tên doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác, hay mô hình của các hợp tác xã… nhưng đều chung một mục đích hoạt động kinh doanh là kiếm lợi nhuận, song khi thành lập sẽ được thành lập theo hồ sơ, trình tự thủ tục khác nhau. Ngoài Pháp nhân thương mại thì còn có pháp nhân phi thương mại. Với pháp nhân này được hiểu là pháp nhân không có mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên còn lại. Thường với loại pháp nhân phi thương mại sẽ hay nhắc đến hoạt động của các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, quỹ xã hội, tổ chức chính trị… Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước nhà nước, do pháp nhân đó thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.
2. Pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi nào?
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm. Là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.
Tại Điều 75 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 có quy định về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại như sau:
Thứ nhất, hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại là hành vi của một người hoặc một số người đang thuộc biên chế của tổ chức kinh tế mà theo pháp luật thì tổ chức kinh tế này là pháp nhân thương mại. Nếu họ không phải trong tổ chức kinh tế được công nhận là pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội của họ không phải là hành vi của pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, nếu một người được pháp nhân thương mại ký hợp đồng hay ủy quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân thương mại giao và khi thực hiện họ nhân danh pháp nhân thương mại đã ký hợp đồng hoặc ủy quyền cho họ thì hành vi phạm tội của người này vẫn là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại mà họ ký hợp đồng hoặc được ủy quyền.
Thứ hai, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại: Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc ủy quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội họ lại lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì chỉ hành vi nào vì lợi ích của pháp nhân thương mại mới buộc pháp nhân thương mại phải chịu, còn hành vi nào vượt ra ngoài lợi ích của pháp nhân thương mại mà vì lợi ích cá nhân họ thì họ phải chịu.
Thứ ba, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại: Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như: Giám đốc, Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của công ty. Sự chỉ đạo, điều hành này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tổ chức mà người tổ chức là người chỉ đạo điều hành mọi hành vi của tất cả các đồng phạm khác. Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.
Thứ tư, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tùy thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.
Quý khách có nhu cầu tham khảo thêm nội dung bài viết sau nội dung Luật Minh Khuê: Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội
3. Tổng hợp các tội pháp nhân thương mại bị truy cứu hình sự
Theo quy định tại Điều 76 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quy định tại các điều sau:
– Điều 188 (tội buôn lậu);
– Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới);
– Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm);
– Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm);
– Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả);
– Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm);
– Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh);
– Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi);
– Điều 196 (tội đầu cơ);
– Điều 200 (tội trốn thuế);
– Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước);
– Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán);
– Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán);
– Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán);
– Điều 213 (Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm);
– Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động);
– Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh);
– Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan);
– Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp);
– Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên);
– Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản);
– Điều 234 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);
– Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường);
– Điều 237 (Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường);
– Điều 238 (Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông);
– Điều 239 (Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam);
– Điều 242 (Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản);
– Điều 243 (Tội hủy hoại rừng);
– Điều 244 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm);
– Điều 245 (Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên);
– Điều 246 (Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại);
– Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố);
– Điều 324 (Tội rửa tiền);
Trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa được sửa đổi, bổ sung thì chỉ có 31 tội danh mà pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì ngoài 31 tội danh đã được quy định trong Bộ luật hình sự thì Quốc hội đã bổ sung thêm 2 tội, đó là tội tài trợ khủng bố và tội rửa tiền. Như vậy, tổng số tội danh mà pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là 33 tội.
4. Hình phạt đối với pháp nhân thương mại khi pháp nhân thương mại phạm tội.
4.1 Hình phạt chính
– Phạt tiền: Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng (Điều 77 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017)
– Đình chỉ hoạt động có thời hạn: đình chỉ hoạt động của pháp nhân trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm (Điều 78 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017)
– Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: chấm dứt hoạt động của thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả đó. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ mọi hoạt động. (Điều 79 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017)
4.2 Hình phạt bổ sung
– Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định: được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội. Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động. Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. (Điều 80 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017)
– Cấm huy động vốn: được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:
+ Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư;
+ Cấm phát hành, chào bán chứng khoán;
+ Cấm huy động vốn khách hàng;
+ Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước;
+ Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Phạt tiền: áp dụng trong trường hợp không được áp dụng là hình phạt chính.
4.3 Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội
Đối với hình phạt chính:
– Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung. Hình phạt tiền không tổng hợp với các hình phạt khác;
– Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực hoặc hình phạt đã tuyên cùng là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong lĩnh vực đó;
– Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong cùng lĩnh vực thì được tổng hợp thành hình phạt chung nhưng không vượt quá 04 năm;
– Nếu trong số các hình phạt đã tuyên có hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của Bộ luật này thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với toàn bộ hoạt động;
– Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau thì không tổng hợp.
Đối với hình phạt bổ sung:
– Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung;
– Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.
Xem thêm bài viết liên quan: Phân tích các hình phạt đối với pháp nhân phạm tội, Pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành
Trên đây Luật Minh Khuê chia sẻ các bạn nội dung về lĩnh vực hình sự: Tổng hợp các tội pháp nhân thương mại bị truy cứu hình sự. Hy vọng bài viết trên giúp ích các bạn đọc hiểu rõ hơn quy định của nhà nước. Mọi thắc mắc cần bổ sung giải đáp thông tin bạn đọc có thể liên hệ chúng tôi qua số tổng đài trực tuyến 19006162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ luật sư, luật gia, chuyên gia pháp lý của Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực đất đai, hình sự, dân sự, giấy phép kinh doanh,... mà Quý khách đang gặp phải, đồng thời có những lời khuyên pháp lý nhanh và chính xác nhất về vấn đề mà Quý khách đang gặp phải. Trân trọng cảm ơn!