1. Trách nhiệm của Nhà nước

Pháp luật lao động quy định trách nhiệm của Nhă nước thể hiện ở các nội dung xây dựng và ban hành các quy định pháp luật; tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân, đồng thời, khuyến khích phát triển các dịch vụ về an toàn, vệ sinh lao động.

Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 đã dành riêng một điều (Điều 4) quy định về chính sách của Nhà nước đối với vấn đề an toàn, vệ sinh lao động, bao gồm việc tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động ữong quá trình lao động; khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩri kĩ thuật, hệ thống quản lí tiên tiến, hiện đại,... trong quá trình lao động; đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động, hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hỗ trợ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động,...

Dựa trên những chính sách thể hiện định hướng cụ thể của Nhà nước đối với hoạt động an toàn, vệ sinh lao động, Nhà nước tổ chức thực hiện với hệ thống cơ quan chức năng như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ và uỷ ban nhân dân các cấp. Cụ thể hơn, Chính phủ - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất quyết định Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động (khoản 1 Điều 133 Bộ luật lao động năm 2019). Trong đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách, kế hoạch về an toàn, vệ sinh lao động, chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động; lập hồ sơ quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động. Bộ y tế, với vai trò, chức năng của mình có trách nhiệm xây dựng văn bản pháp luật, đánh giá, kiểm soát, quản lí các các tiêu chuẩn, các yếu tố có hại tại nơi làm việc và danh mục bệnh nghề nghiệp cùng các tiêu chuẩn sức khoẻ cho từng loại nghề, công việc; phối hợp xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động,... Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lí an toàn, vệ sinh lao động tại địa phương. Có thể thấy, quy định trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương... thể hiện rô trách nhiệm của Nhà nước đối với công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động.

2. Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động

Trách nhiệm của người sử dụng lao động được pháp luật lao động quy định khá đầy đủ, toàn diện. Theo đó, người sử dụng lao động phải đảm bảo các điều kiện nơi làm việc tuân thủ theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật của Nhà nước. Đây được quy định là nghĩa vụ bắt buộc của người sử dụng lao động. Chủ sử dụng lao động phải bố trí nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ...., đảm bảo các điều kiện an toàn, vệ sinh lao động đối với máy, thiết bị, nhà xưởng đạt các quy chuẩn kĩ thuật quốc gia tại nơi làm việc đã được công bố, áp dụng, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động… (Xem thêm: Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015).

Khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất, người sử dụng lao động phải lập phương án về các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động (xem: Điều 132 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 134 Bộ luật lao động năm 2019). Ngoài trách nhiệm tuân thủ các quy chuẩn kĩ thuật do Nhà nước quy định trong việc bố trí điều kiện, môi trường làm việc, chủ sử dụng lao động còn có nghĩa vụ xây dựng kế hoạch, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trên cơ sở lấy ý kiến của ban chấp hành công đoàn cơ sở, từ đó tổ chức huấn luyện, hướng dẫn thực hiện các quy định, quy trình, biện pháp bảo hộ lao động đó.

Đối với cá nhân người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo vệ họ khỏi các yếu tố tiềm ẩn nguy hiểm như trang bị phương tiện phòng hộ, chăm sóc sức khoẻ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, bố trí thời giờ làm việc, nghỉ ngơi phù hợp, bố trí bộ phận hoặc người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động,... Người sử dụng lao động không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc hoặc trở lại nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khoẻ của người lao động. Khi xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, họ phải thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thực hiện việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố kĩ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng và tình hình thực hiện công tác bảo hộ lao động… (Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015).

>> Xem thêm:  Các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động ?

3. Trách nhiệm của người lao động

Hoạt động bảo hộ lao động chỉ thực sự có ý nghĩa và được đảm bảo hiệu quả khi cá nhân người lao động chủ động và tích cực trong việc tự bảo vệ bản thân mình và đồng nghiệp của họ. Tuỳ thuộc vào từng nhóm đối tượng lao động (có giao kết hợp đồng lao động hoặc không), pháp luật có quy định khác nhau về quyền và trách nhiệm về an toàn, vệ sinh lao động. Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, họ phải chấp hành các quy định, quy trình về an toàn lao động, vệ sinh lao động, sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo hộ cá nhân... (xem: Điều 134 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 6 Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015). Không chỉ vậy, đối với những trách nhiệm được quy định trong thỏa ước của đơn vị, hợp đồng lao động, người lao động cũng phải đảm bảo thực hiện. Song song với những trách nhiệm, người lao động được chủ động hưởng các quyền được đảm bảo các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ, đóng bảo hiểm xã hội và hưởng chế độ khi gặp rủi ro, quyền được cung cấp thông tin, quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ tiền lương và không bị coi là vi phạm kỉ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khoẻ của mình (Xem: Khoản 1 Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015).

Đối với người lao động làm việc không theo hợp đông lao động, họ phải chủ động hơn trong hoạt động bảo hộ lao động, họ phải tự chịu trách nhiệm về an toàn, vệ sinh lao động đối với công việc do mình thực hiện và có trách nhiệm với những người có liên quan trong quá trinh lao động. Bên cạnh đó, họ có quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động và tiếp nhận thông tin, tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện về công tác bảo hộ lao động,...

4. Trách nhiệm của các chủ thể khác

Bên cạnh trách nhiệm chính của Nhà nước và hai chủ thể trong quan hệ lao động xác định, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, cần sự tham gia hỗ trợ của các chủ thể khác. Với chức năng và lĩnh vực hoạt động riêng của mình, pháp luật quy định ữách nhiệm của các tổ chức công đoàn, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác, Hội nông dân Việt Nam... (Điều 11 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015).

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Cách tính ngày nghỉ hằng năm theo thâm niên công tác ?