1. Căn cứ pháp lý
2. Trách nhiệm dân sự hỗn hợp là gì?
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại. Trách nhiệm dân sự bao gồm buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm.
Từ khái niệm trên, có thể suy ra trách nhiệm dân sự hỗn hợp là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trong trường hợp mà người gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại đều có hành vi trái pháp luật, có lỗi. Hành vi trái pháp luật của mỗi người đều là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại xảy ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là việc chủ thể nhận lãnh hậu quả pháp lý về tổn thất xảy ra đối với chủ thể khác. Sự kiện pháp lý dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại là sự kiện mà khi xảy ra thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác lập. Thông thường, người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại không mong muốn phải nhận trách nhiệm đó, vậy nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại được coi là một chế tài về dân sự đối với người gây ra thiệt hại.
Căn cứ pháp sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015: Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo đó, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm:
- Người thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
- Có thiệt hại thực tế xảy ra.
Nếu thỏa mãn hai căn cứ trên thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Theo lý thuyết khoa học pháp lý, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại phát sinh khi thỏa mãn các yếu tố:
- Có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
- Có thiệt hại thực tế xảy ra.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của bên gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại với thiệt hại xảy ra. Trong trường hợp phát sinh trách nhiệm dân sự hỗn hợp nếu thiếu một trong hai hành vi của một bên bất kỳ sẽ không dẫn đến thiệt hại.
- Yếu tố lỗi (lỗi vô ý và lỗi cố ý). Trên lý thuyết về khoa học pháp lý, lỗi là tiêu chí cổ điển, minh thị và được chấp nhận trên toàn cầu khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sự năm 2015, yếu tố lỗi không còn là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hay nói cách khác, trong Bộ luật Dân sự năm 2015, lỗi của người có hành vi gây thiệt hại là lỗi suy đoán, mặc định cho đến khi có bằng chứng chứng minh ngược lại.
3. Người gây thiệt hại và người bị thiệt hại chịu trách nhiệm tương ứng với lỗi của mình không?
Nguyên tắc chung khi bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng.
Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể các nguyên tắc trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Ccas bên có thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so vối khả năng kinh tế của mình.
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
- Bên có quyền, lợi ich bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Trong trách nhiệm dân sự hỗn hợp, người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có hành vi vi phạm gây ra hậu quả nên cả hai đều phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của mình.
Như phân tích ở trên, người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên được quyết định bởi yếu tố lỗi.
- Sự kiện bất khả kháng được định nghĩa tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015: Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Theo đó, nếu bên gây thiệt hại có thể chứng minh thiệt hại gây ra không phải do lỗi của mình mà do sự kiện bất khả kháng thì sẽ không phải bồi thường.
- Lỗi của bên bị thiệt hại, trong pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại, lỗi của người bị thiệt hại không phải là lỗi mặc định, suy đoán mà phải được chứng minh. Bên gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm một cách đương nhiên và chỉ được loại bỏ phần trách nhiệm đó nếu chứng minh được lỗi do bên bị thiệt hại gây ra.
Bên bị thiệt hại sẽ phải chịu trách nhiệm đối với phần lỗi do mình gây ra. Trường hợp thiệt hại hoàn toàn do người bị thiệt hại gây ra, người bị thiệt hại sẽ không nhận được bồi thường, tức là người gây thiệt hại không có lỗi thì sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu thiệt hại do cả hai bên gây ra, người bị thiệt hại vẫn được bồi thường phần thiệt hại do người kia gây ra. Tức là bên bị thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của mình. Mức bồi thường sẽ do Tòa án ấn định sao cho tương xứng với trách nhiệm của mỗi bên.
4. Thủ tục khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Thủ tục khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được thực hiện theo các bước:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Các tài liệu chứng cứ kèm theo được quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bao gồm:
- CMND/CCCD/hộ chiếu và sổ hộ khẩu của người khởi kiện, người bị kiện (cá nhân); đăng ký kinh doanh/ đăng ký thuế/ điều lệ của người khởi kiện, người bị kiện (tổ chức).
- Tài liệu chứng cứ chứng minh sự kiện vi phạm
- Tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế
- Danh mục tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Bước 2: Nộp hồ sơ khởi kiện
Nộp hồ sơ khởi kiện được quy định tại điều 190 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, có thể nộp hồ sơ theo các phương thức sau:
- Nộp trực tiếp tại Tòa án
- Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính
- Gửi trực tuyến bằng hình thức thư điện tử qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia
Bước 3: Tòa án thụ lý vụ án
- Sau khi nhận được đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, Tòa án phải xem xét tài liệu, chứng cứ cần thiết, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền thì Tòa án sẽ thông báo cho đương sự biết để nộp tạm ứng án phí.
- Đương sự phải nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi nộp tạm ứng án phí, Tòa án thụ lý vụ việc dân sự kể từ khi nhận được biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách những thông tin tư vấn hữu ích. nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có nhu cầu cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách.