1.Điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Điều 19 Bộ luật hình sự quy định: “ Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản”. Theo đó, chúng ta chỉ coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi có đủ các điều kiện sau: - Việc chấm dứt hành vi phạm tội phải xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Khi tội phạm đã ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành thì cũng có nghĩa là kẻ phạm tội đã thực hiện được hết những hành vi mong muốn và do vậy không thể có việc tự ý dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm. Tại thời điểm chưa đạt đã hoàn thành, hậu quả của tội phạm tuy chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra mà không cần có hành vi gì tiếp nữa (theo ý thức chủ quan của chủ thể). Do vậy, việc chủ thể dừng lại không thực hiện tiếp rõ ràng không ảnh hưởng gì đến việc hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra. Ví dụ, do A thù B nên A tiêm thuốc vào những con cá rô và mang đi mắc vào lưới của B để B mang về ăn mà chết. Tuy nhiên, khi B mang về ăn, phát hiện có mùi lạ nên đã ném cho chó ăn và chó chết. Sau khi biết chuyện, A đã đi tự thú. Trường hợp này, A không được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì trường hợp này là chưa đạt đã hoàn thành. Một khi tội phạm đã hoàn thành thì cũng không thể có việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được vì khi đó hành vi phạm tội đã có đầy đủ những đặc điểm thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Việc dừng lại lúc này hoàn toàn không làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã thực hiện. Chẳng hạn, H trộm chiếc xe gắn máy của N nhưng không bị phát hiện. Sau khi bán xe được 10 triệu, H đã hoàn lương và dùng tiền mua một chiếc xe đi bán kẹo kéo. Hai năm sau, công an đã điều tra ra H đã trộm cắp chiếc xe máy và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. - Việc chấm dứt hành vi phạm tội phải tự nguyện và dứt khoát. Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, trước hết đòi hỏi việc chủ thể dừng lại, không thực hiện tiếp tội phạm phải hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối. Khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin rằng, hiện tại không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện tiếp tội phạm. Việc dừng lại, không thực hiện tiếp tội phạm trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải là sự thể hiện của việc từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải là thủ đoạn để tiếp tục thực hiện tội phạm.

Vẫn có trường hợp người phạm tội đang thực hiện tội phạm và có trở lực khách quan, nhưng trở lực đó không đủ để ngăn cản người phạm tội thực hiện tiếp tội phạm. Tuy nhiên, người phạm tội đã dừng lại hẳn hoặc chuyển sang một hành vi khác, có thể là hành vi phạm tội khác. Như vậy, tội phạm mà người phạm tội định phạm ban đầu cũng được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Ví dụ, M dùng vũ lực, đã khống chế được L, đè xuống đất và bị L chống cự. Khi đó, M đã nằm được lên mình của L, cởi được hai nút áo trên cổ của L và phát hiện sợi dây chuyền vàng. M nghĩ việc hiếp dâm có phần khó khăn nên đã bứt sợi dây chuyền và bỏ đi. Trong trường hợp này, tội hiếp dâm có thể được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội dù việc ngừng lại không thực hiện tiếp tục hành vi hiếp dâm có sự ngăn cản của nạn nhân, nhưng yếu tố quyết định cho hành vi này dừng lại là mang tính chủ quan. Bởi vì, dù bị chống cự của nạn nhân, nhưng nếu M quyết tâm thì sự chống cự đó không đủ ngăn cản M hiếp dâm L.

2. Trách nhiệm hình sự của những người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Theo Điều 19 Bộ luật hình sự Việt Nam, “người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”. Ví dụ, một người dự định phạm tội giết người nhưng mới đâm gây thương tích cho nạn nhân đã tự nguyện dừng lại và không thực hiện tội phạm nữa. Khi đó, người này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng sẽ bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích. Miễn trách nhiệm hình sự do đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thuộc thẩm quyền áp dụng của bất kỳ cơ quan tư pháp hình sự nào căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát hoặc Toà án). Đây là dạng miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan tư pháp hình sự khi có đủ cơ sở cho thấy người phạm tội đã thực sự “tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản ” và đây chính là căn cứ pháp lý duy nhất được quy định trong luật. Tuy nhiên, nhược điểm cần phải được khắc phục của luật hình sự Việt Nam là mới chỉ quy định việc áp dụng dạng miễn trách nhiệm hình sự này đối với một người đồng phạm - người thực hành (khi sử dụng thực ngữ “việc phạm tội”), mà chưa quy định cụ thể và rõ ràng việc áp dụng nó với ba loại người đồng phạm còn lại- người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Dạng miễn trách nhiệm hình sự này chỉ tồn tại trong trường hợp tội phạm đã thực hiện ở hai giai đoạn đầu của hoạt động phạm tội sơ bộ - chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, đồng thời cũng không phụ thuộc đó là loại tội phạm nào. Do pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành không hề quy định một căn cứ pháp lý nào bắt buộc các cơ quan tư pháp hình sự phải hạn chế phạm vi áp dụng chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nên dạng miễn trách nhiệm hình sự này có thể được áp dụng đối với tất cả những trường hợp tội phạm chưa đạt. Có nhận thức thống nhất và đúng đắn như vậy thì mới có thể thấy rõ bản chất nhân đạo của chế định này và góp phần thực hiện có hiệu quả chức năng ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm.

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ miễn trách nhiệm hình sự nhưng không phải là không có sự việc phạm tội, miễn tức là có trách nhiệm hình sự nhưng Nhà nước miễn trách nhiệm hình sự. Về ý nghĩa xã hội miễn trách nhiệm hình sự cũng giống như loại trừ trách nhiệm hình sự (không còn trách nhiệm hình sự) nhưng về mặt pháp lý họ vẫn có thể bị xử lý bằng biện pháp khác. Do đó miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này thực chất là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội họ định phạm còn hành vi của họ trên thực tế cấu thành tội gì thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ấy. Nếu hành vi của họ không cấu thành tội nào được quy định trong Bộ luật hình sự thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự và trong trường hợp này thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được coi là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

3.Khái niệm đồng phạm là gì ?

Đồng phạm là một khái niệm có ý nghĩa vô cùng to lớn trong Bộ luật hình sự, thể hiện ở chỗ nó là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự không chỉ đối với những người trực tiếp thực hiện tội phạm (thực hiện những hành vi thoả mãn trong cấu thành tội phạm) mà cả những người khác có liên quan đến tội phạm đó. Chúng ta đã biết, tội phạm trên thực tế diễn ra rất đa dạng, nhiều trường hợp không chỉ đơn thuần có một người thực hiện mà có nhiều người tham gia thực hiện một tội phạm. Trong số họ, khi thực hiện tội phạm, không phải ai cũng trực tiếp tham gia thực hiện các hành vi phạm tội được mô tả trong cấu thành tội phạm, nhưng sự tham gia của họ thực tế đóng một vai trò nhất định trong việc thực hiện tội phạm, làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện. Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ điều kiện áp dụng chế định này trong khoa học pháp lý hình sự không chỉ làm phong phú thêm kho tàng lý luận luật hình sự mà còn tạo cơ sở cho việc vận dụng triệt để, đúng đắn nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xử lý hình sự. “Đồng” theo từ điển tiếng Việt nghĩa là cùng như nhau, không thể khác được. “Phạm” là làm tổn hại đến cái cần tôn trọng, mắc phải điều cần tránh. Đồng phạm là cùng phạm tội hiểu theo nghĩa của Luật hình sự.

4. Vài nét về lịch sử chế định đồng phạm

Lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam đến thế kỷ thứ XI (thời Lý - Trần), khi luật thành văn đầu tiên ra đời (Bộ hình thư), cũng như pháp luật các triều đại phong kiến khác đã thấy có áp dụng nguyên tắc trừng trị tập thể, đặc biệt đối với các tội thuộc Thập ác tội (“mưu phản” chẳng hạn), phải giết hết thân tộc. Bên cạnh đó, dưới thời Lý – Trần, nhà vua còn quy định 10 hộ họp lại thành một báo để kiểm soát nhau. Nếu một người trong báo đó phạm tội thì cả báo phải chịu trách nhiệm. Ở đây, về mặt hình thức, chúng ta có thể thấy rằng, việc truy cứu trách nhiệm đối về một tội có thể được tiến hành đối với nhiều người. Mặc dù quy định trên chưa thể hiện rõ cơ sở của việc truy cứu trách nhiệm là hành vi của họ có liên quan đến tội phạm mà họ bị truy cứu trách nhiệm nhưng đó là những tiền đề đầu tiên của pháp luật thời phong kiến, cho phép truy cứu trách nhiệm đối với nhiều người cùng phạm một tội phạm. Bộ luật Hồng Đức được xem là đi đầu trong việc đưa ra cơ sở pháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm của nhiều người cùng phạm một tội. Điều 35 Bộ luật này quy định: “Nhiều người cùng phạm một tội, thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng”. Điều 169 quy định: “Đồng mưu đánh người bị thương, thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng, là thủ phạm, kẻ chủ mưu cũng phải cùng một tội, còn người tòng phạm thì được giảm tội một bậc; đánh đến chết thì xét xem chết vì thương tích nào, kẻ đánh thương tích ấy nặng tội. Nếu không xét được rõ ràng thì kẻ hạ thủ sau cùng xử nặng tội. Nếu đánh loạn xạ không biết ai đánh trước sau, nhiều ít, thì kẻ chủ mưu nặng tội nhất, còn kẻ khác đều xử giảm tội một bậc”.Có thể thấy, nhà làm luật đã chú ý phân biệt kẻ thủ phạm và tòng phạm, có sự xác định trách nhiệm tuỳ thuộc vào vai trò của từng người trong vụ phạm tội. Về điểm này, nhà làm luật của Hồng Đức đã tiếp nhận một cách có chọn lọc các quy định của Bộ luật nhà Đường. Điều 9 chương Đạo tặc Bộ luật nhà Đường quy định: “Chủ mưu sát nhân giả, đồ tam niên; dĩ thương giả, giảo; dĩ sát giả, trảm; tòng nhi gia công giả, giảo; bất gia công giả, lưu tam thiên lý; tạo ý giả tuy bất hành nhưng vi thủ (cố nhân sát giả vi đồng). Nghĩa là phàm mưu giết người thì bị đồ ba năm; đã làm người ta bị thương, bị tội giảo; đã giết người, bị tội chém; tòng phạm một cách tích cực, (gia công - thêm công) bị tội giảo; tòng phạm một cách tích cực (bất gia công), bị tội lưu 3000 lý; người tạo ý, tuy không hành động cũng coi là chủ mưu (thuê người giết cũng thế). Nói chung, nhà làm luật thời kỳ này đã lẫn lộn giữa hai khái niệm đồng phạm và tòng phạm. Tuy nhiên, có một sự thống nhất ở chỗ là trong đồng phạm hay tòng phạm thì đều có sự tham gia phạm tội của chính phạm, chủ mưu và người tòng phạm. Chính phạm (thủ phạm) là người đã thực hiện những hành vi cụ thể gây nên tội phạm. Luật hiện hành thời kỳ này gọi họ là thủ phạm thực tế (auteur metériel). Thủ phạm tinh thần (người chủ mưu) là người không tự mình thực hiện các hành vi phạm tội nhưng có thể coi là nguyên nhân của tội phạm ấy về phương diện tinh thần (auteur intellectuel).83 Trong Bộ luật Hồng Đức, khái niệm tòng phạm không được định nghĩa rõ ràng như trong Bộ luật nhà Đường. Nghiên cứu điều luật nhà Đường được trích dẫn ở trên, ta thấy, họ đã phân biệt ba hình thức tòng phạm, đó là: (1) tòng phạm gia công hay tích cực tham dự vào sự phạm pháp; (2) tòng phạm bất gia công hay không tích cực; (3) tòng phạm bất hành nghĩa là không hành động. Luật hình sự Pháp lúc bấy giờ phân biệt bốn trường hợp tòng phạm: - Tòng phạm thực hiện bằng sự xúi giục (complicité par provocation); - Tòng phạm thực hiện bằng sự chỉ dẫn (complicité par instructions); - Tòng phạm thực hiện bằng sự cung cấp phương tiện (complicité par foumiture); - Tòng phạm thực hiện bằng sự trợ giúp (complicité par aide et assistance). Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, pháp luật hình sự nước ta quy định cụ thể hơn về những trường hợp đồng phạm. Chẳng hạn, Sắc lệnh số 233 – SL (17/11/1946) quy định: “Người phạm tội đưa hối lộ và nhận hối lộ có thể bị tịch thu nhiều nhất là đến 3/4 tài sản. Những người đồng phạm cũng bị xử phạt như trên”; Sắc lệnh 133 – SL (20/01/1953) đã quy định trường hợp phạm tội của nhiều người, trong đó gồm bọn chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, xúi giục bọn tham gia tổ chức phản cách mạng…

Trong Bộ luật hình sự 1985 cũng như Bộ luật hình sự hiện hành đều quy định một cách khái quát khái niệm đồng phạm và chỉ rõ ra những loại người bị xem là đồng phạm. Đồng thời, luật cũng nêu cụ thể vai trò của từng loại người trong đồng phạm.

5.  Đồng phạm trong Luật hình sự một số nước

Ngày nay, Luật hình sự của nhiều nước trên thế giới đều có quy định về trường hợp tội phạm do nhiều người cùng thực hiện. Điều 22 Bộ luật hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 1979 quy định: “Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm. Hai hoặc nhiều người vô ý cùng thực hiện một tội phạm không phải là đồng phạm”. Bộ luật hình sự Liên bang Nga 1996 quy định: “Hai hay nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội cố ý là đồng phạm” (Điều 33). Bộ luật hình sự một số nước (Mỹ, Nhật, Đức...) lại không quy định rõ thế nào là đồng phạm mà họ quy định trách nhiệm hình sự trực tiếp đối với những người cùng tham gia thực hiện tội phạm. Điều 2385 Bộ tổng luật của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định: “...người nào tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hoặc có ý định tổ chức một hiệp hội, một nhóm người hoặc tập hợp nhiều người để dạy dỗ, tuyên truyền, khuyến khích việc lật đổ hoặc tiêu diệt Chính phủ bị phạt đến 20. 000 đô la. Nếu hai hoặc nhiều người câu kết với nhau thực hiện một trong những hành vi nói trên đây thì mỗi người trong họ bị phạt đến 20.000 đô la hoặc bị phạt tù đến 20 năm...”. Điều 107 Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định: “Khi đám đông được tụ tập nhằm mục đích dùng vũ lực hoặc đe doạ và không giải tán thậm chí sau khi công chức có thẩm quyền đã ra lệnh giải tán ba lần hoặc hơn thì người cầm đầu bị phạt tù có hoặc không có lao động bắt buộc đến 3 năm và những người khác bị phạt tiền đến 100 000 yên”. Về các loại người đồng phạm, các nhà làm luật có sự chú ý phân biệt vai trò của người thực hành với các loại người đồng phạm khác. Điều 47, 48, 49 Bộ luật hình sự Cộng hoà Liên bang Đức đề cập đến vấn đề này như sau: Điều 47 quy định: “Nhiều người thực hiện một hành vi phạm tội, mỗi người trong số họ sẽ bị trừng phạt với vai trò người thực hành”. Khái niệm người xúi giục được quy định tại Điều 48: “Sẽ bị trừng phạt với vai trò người xúi giục tất cả những ai bằng quà tặng, lời hứa, sự đe doạ, lạm quyền lợi dụng lỗi lầm của người khác cũng như các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác thực hiện hành vi phạm tội”. Điều 49 Bộ luật này quy định về tòng phạm như sau: “Sẽ bị trừng phạt với vai trò người tòng phạm những ai cố ý cộng tác với người thực hành bằng sự chỉ dẫn hoặc bằng hành động để nhằm phạm trọng tội hoặc khinh tội”. Bộ luật hình sự Áo không phân biệt từng loại người trong đồng phạm mà chỉ phân biệt giữa người thực hành với những đồng phạm khác. Điều 5 Bộ luật hình sự Áo quy định: “Bị coi là người đồng phạm không chỉ người thực hành trực tiếp mà cả những người đã ra lệnh, khuyên bảo, chỉ dẫn, khích lệ việc chuẩn bị phạm tội, cố ý khích động, giúp sức, góp phần vào việc thực hiện tội phạm thông qua việc cấp phương tiện, loại bỏ những trở ngại cho việc thực hiện tội phạm hoặc thực hiện những hành vi khác trên cơ sở sự thoả thuận trước với người thực hành về việc giúp sức người thực hành sau khi người thực hành thực hiện hành vi phạm tội”. Bộ luật hình sự Bỉ không quy định về người xúi giục, người giúp sức mà chỉ có quy định phân biệt người thực hành, người tòng phạm với những người đồng phạm khác. Điều 66 Bộ luật hình sự Bỉ quy định: “Sẽ bị trừng phạt như người thực hành một trọng tội hoặc khinh tội: - Những người thực hiện hành vi hoặc cộng tác trực tiếp với người thực hiện hành vi; - Những người có hành vi giúp sức việc thực hiện hành vi phạm tội mà nếu thiếu sự giúp sức đó, tội phạm không thể được thực hiện; - Những người dùng quà tặng, lời hứa, sự đe doạ, lạm quyền, mưu mẹo nhằm trực tiếp kích động việc thực hiện tội phạm; - Những người bằng diễn văn trong các cuộc họp, chỗ đông người hoặc các bài viết, ấn phẩm, tranh vẽ, biểu tượng đã được quảng cáo, phân phát, bán, trưng bày cho quần chúng xem nhằm kích động việc thực hiện tội phạm”. Về khái niệm người tòng phạm, Điều 67 quy định: “Sẽ bị trừng phạt với vai trò người tòng phạm một trọng tội hoặc khinh tội: - Những người chỉ dẫn việc thực hiện trọng tội hoặc khinh tội; - Những người cung cấp vũ khí, phương tiện hoặc các thiết bị khác sử dụng để phạm trọng tội hoặc khinh tội; - Những người ngoài trường hợp đã dự liệu ở điểm 3, Điều 66, cố ý giúp sức người thực hành hoặc những người đồng thực hành phạm một trọng tội hoặc khinh tội ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn thực hiện”. Bộ luật hình sự Nhật Bản dành cả chương XI để quy định về đồng phạm nhưng vẫn không đề cập đến định nghĩa thế nào là đồng phạm mà chỉ có khái niệm về đồng chính phạm, người xúi giục, người giúp sức ở Điều 60, 61, 62. Về đồng chính phạm, Điều 60 quy định: “Hai hoặc nhiều người cùng thực hiện một tội phạm đều là chính phạm”. Khái niệm người xúi giục được quy định tại Điều 61: “Người thông qua sự xúi giục của mình mà làm cho người khác thực hiện một tội phạm sẽ bị xử lý như người chính phạm. Quy định này cũng áp dụng đối với người đã xui người khác xúi giục”. Về khái niệm người giúp sức, Điều 62 quy định: “Người giúp sức là người đã giúp đỡ chính phạm. Người đã xui người giúp sức bị xử lý như người giúp sức”.

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)