Trong đó, trường hợp thứ nhất được gọi là trường hợp phạm tội chưa đạt và chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Trường hợp này được trình bày tại mục II. Mục V này nghiên cứu trường hợp chưa thực hiện được tội phạm (mà mới chỉ có hành vi chuẩn bị phạm tội) hoặc hành vi phạm tội đã thực hiện chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là do ý muốn của người phạm tội.

1. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là gì ?

Điều 16 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: "Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này" (Điều 16 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

2. Các dấu hiệu của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Theo quy định ưên, trường hợp này có nghĩa, người phạm tội tự dừng lại không thực hiện tiếp hành vi phạm để tội phạm hoàn thành. Theo đó, trường hợp này có các dấu hiệu sau:

Thứ nhất, về thời điểm có thể xảy ra: Việc không thực hiện tiếp chỉ có thể xảy ra khi còn là chuẩn bị phạm tội hoặc là phạm tội chưa đạt và thuộc trường hợp chưa đạt chưa hoàn thành. Như vậy, việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội theo điều luật này này không thể xảy ra khi hành vi phạm tội đã thực hiện thuộc trường hợp tội phạm hoàn thành hoặc trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành. Điều này được giải thích như sau:

- Trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi mong muốn nên cũng có nghĩa chủ thể không còn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, trong trường hợp này, không thể xảy ra việc không thực hiện tiếp tội phạm. Tại thời điểm chưa đạt đã hoàn thành, hậu quả thiệt hại của tội phạm tuy chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra mà không cần người phạm tội phải có hành vi gì tiếp nữa (theo ý thức chủ quan của chủ thể). Để tránh hậu quả thiệt hại này đòi hỏi chủ thể phải có hành động ngăn chặn. Trong thực tế có thể có trường hợp sau khi thực hiện các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả thiệt hại, người phạm tội đã tự nguyện có những hành động tích cực ngăn chặn không cho hậu quả xảy ra và do vậy hậu quả đã không xảy ra. Do vậy, ở một số nước khác, luật hình sự quy định thêm trường hợp này (Xem: Điều 24 BLHS Cộng hoà Liên bang Đức. Trường hợp này có thể được coi là trường hợp tương tự của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, khi chưa được BLHS Việt Nam quy định thành chế định riêng.).

- Tội phạm đã hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nên hành vi phạm tội được thực hiện đã có đầy đủ đặc điểm thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện. Do vậy, việc dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm tại thời điểm này không làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã thực hiện.

Thứ hai, về tính chất của việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội: Việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội phải là “tự mình”“không có gì ngăn cản”. Hai dấu hiệu này có thể được gộp thành dấu hiệu “tự nguyện”.

Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đòi hỏi việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội phải hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối. Khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin rằng, không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện tiếp hành vi phạm tội của mình.

>> Xem thêm:  Đặc điểm của nhân thân người phạm tội là gì ? Cách phân loại người phạm tội ?

Ngoài ra, việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội ttong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải là sự thể hiện của việc từ bỏ hẳn ý định phạm tội mà không phải là thủ đoạn “tạm dừng” để sau đó tiếp tục thực hiện tội phạm.

Trong thực tế, việc tự ý nửa chừng chẩm dứt việc phạm tội có thể do những động cơ khác nhau thúc đẩy như hổi hận, sợ bị phát hiện, sợ bị trừng trị V.V.. Luật hình sự không đòi hỏi người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải thực sự hối hận...

3. Trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Theo luật hình sự Việt Nam, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm.

Trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người phạm tội về mặt chủ quan đã hoàn toàn tự nguyện từ bỏ hẳn ý định phạm tội của mình, không còn mong muốn thực hiện tội phạm “đển cùng” như ở trường hợp phạm tội chưa hoàn thành. Xét về mặt khách quan, hành vi đã thực hiện của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chưa có tính nguy hiểm đầy đủ của tội phạm muốn thực hiện vì chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP). Trong sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan như vậy, hành vi đã thực hiện của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được coi như đã mất tính nguy hiểm của tội phạm muốn thực hiện. Đó là một trong các căn cứ của việc quy định miễn trách nhiệm hình sự “về tội định phạm” cho người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Việc quy định này đồng thời cũng là động lực thúc đẩy người đã thực hiện tội phạm dừng lại để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước. Như vậy, quy định của Điều 16 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 được xem như biện pháp pháp lí nhằm hạn chế những thiệt hại có thể gây ra cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.

Trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người phạm tội chỉ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ các dấu hiệu của tội phạm khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Ví dụ: Chủ thể tội giết người trong khi đang thực hiện tội phạm đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) nhưng người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) nếu hành vi đã thực hiện (trước khi dừng lại) thoả mãn các dấu hiệu của tội phạm này.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tình huống phạm tội là gì ? Vai trò của tình huống trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Nhân thân người phạm tội là gì ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu người phạm tội