1. Trường hợp tự ý chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự?

Tình huống: Chào Luật sư Minh Khuê, tôi có một giải đáp như sau: Chú tôi và bác hàng xóm thù với nhau rất lâu về vấn đề đất đai rồi, mấy hôm trước chú tôi và bác hàng xóm lại cãi nhau về vấn đề đất đai, không ai nhường nhịn ai. Sau đó chú tôi về nhà và nói với vợ chú sẽ cầm con dao chạy sang giết chết bác hàng xóm nhưng đã được vợ chú chửi và ngăn cản chú lại, sau đó chú cũng thấy hành vi đó là vi phạm pháp luật. Nhưng bác hàng xóm biết chuyện và đã tố cáo chú tôi về hành vi phạm tội chưa đạt?

Vậy, kính thưa Luật sư phạm tội chưa đạt là như thế nào? Đây là chú tôi được vợ chú ngăn lại và chú đã ngộ nhận ra và không cầm dao đi giết ông hàng xóm nữa. Vậy chú có vi phạm pháp luật không?

Cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

Chào bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Về hành vi phạm tội chưa đạt và tự ý chấm dứt việc phạm tội là hai hành vi được quy định khác nhau trong bộ luật hình sự.

Thứ nhất, về phạm tội chưa đạt như sau:

Điều 15. Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Vậy để phân biệt phạm tội chưa đạt với tự ý chấm dứt việc phạm tội. Trong phạm tội chưa đạt người phạm tội đã hoặc đang thực hiện tội phạm của mình nhưng không thực hiện tội phạm được “đến cùng” là do nguyên nhân ngoài ý muốn của họ. Bản thân người phạm tội vẫn muốn tội phạm hoàn thành nhưng tội phạm không hoàn thành được.

Thứ hai, về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

 

Theo Điều luật mô tả trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và xác định vấn đề trách nhiệm hình sự trong trường hợp này. Người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm hoặc đã thực hiện nếu đã tự ý dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm đến cùng nữa mà không có sự tác động của điều kiện khách quan.
Cần chú ý rằng thời điểm dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm “đển cùng” mà tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm của mình đang ở giai đoạn nào? Theo quy định, việc dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm “đến cùng” chỉ có thể xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và thuộc trường hợp chưa đạt chưa hoàn thành.
Với tình huống của bạn, việc chú bạn về nhà và nói với vợ chú sẽ cầm con dao chạy sang giết chết bác hàng xóm nhưng đã được vợ chú chửi và ngăn cản chú lại, sau đó chú cũng thấy hành vi đó là vi phạm pháp luật.
Tức là chú chưa chuẩn bị hành vi phạm tội và vấn đề chú muốn là được nói cho vợ chú biết, giống dạng tham khảo ý kiến của vợ mình. Nhưng chưa chuẩn bị tìm con dao hay dụng cụ khác mà đi gây ông B bị thương.
trường hợp này gia đình ông B kiện chú bạn là sai bỏi vì chưa có chứng cứ rõ ràng.
Trân trọng!
 

2. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tình huống: Thưa Luật sư, việc tự ý chấm dứt phạm tội được quy định và được hiểu như thế nào ạ?

Trả lời:

- Cơ sở pháp lý về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Theo điều luật, Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Đây là trường họp người phạm tội dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm (đến cùng) và việc dừng lại không phải vì bị ngăn cản mà do ý muốn chủ quan (tự mình).
Trước hết, mình cần chú ý về thời điểm dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm “đển cùng” từ lúc nào? Theo quy định, việc dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm “đến cùng” chỉ có thể xảy ra trong những trường hợp: Khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và thuộc trường hợp chưa đạt chưa hoàn thành.
Ví dụ: A chuẩn bị xong xuôi về dụng cụ giết B, nhưng sau đó A thấy nguy hiểm và khó quá nên B đã tự ý rút lui, không thực hiện tội phạm nữa. ...
Hơn nữa về trường họp tội phạm hoàn thành, trường họp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không thể xảy ra được vì người phạm tội đã thực hiện tội phạm được “đến cùng” (Ví dụ: A đã giết B chết).
Trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng không thể xảy ra khi tội phạm thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành vì trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi mong muốn, chủ thể không còn thực hiện tội phạm nữa nên không thể có việc dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm theo quy định của pháp luật.
Tiếp theo, việc không thực hiện tiếp tội phạm phải là “tự mình”, do ý chí mình mong muốn và “không có gì ngăn cản hành vi của mình. Theo đó, việc không thực hiện tiếp tội phạm phải hoàn toàn do động lực bên trong của chính người định phạm tội chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối (người khác ngăn cản, người khác giúp đỡ...). Khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin rằng, hiện tại không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện tiếp được tội phạm. Việc dừng lại cũng không phải để sau này tiếp tục thực hiện lại tội phạm. Như vậy, việc dừng lại, không thực hiện tiếp tội phạm phải có tính “dứt khoát”.
Trong thực tế, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể do những động cơ khác nhau thúc đẩy như hối hận, sợ bị phát hiện, sợ bị trừng trị, ... mà họ đã tự ý chấm dứt việc phạm tội của mình.
Trân trọng!
 

3. Trách nhiệm hình sự của người tự ý chấm dứt việc phạm tội?

- Cơ sở pháp lý: Điều 16 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Theo Điều 16 bộ luật hình sự xác định người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Bởi vì trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người phạm tội về mặt chủ quan ý chí cũng như lý trí đã hoàn toàn tự nguyện từ bỏ hẳn ý định phạm tội của mình, không còn mong muốn thực hiện tội phạm “đến cùng” như ở trường họp phạm tội chưa hoàn thành. Hơn nữa ta xét về mặt khách quan, hành vi đã thực hiện của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chưa có tính nguy hiểm đầy đủ của tội phạm muốn thực hiện vì chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của CTTP. Chính vì điều đó mà hành vi đã thực hiện của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được coi như đã mất tính nguy hiểm của tội phạm muốn thực hiện. Do vậy, việc miễn trách nhiệm hình sự “về tội định phạm ” cho người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là có cơ sở và có căn cứ.
Tuy nhiên cũng tại điều luật đã xác định, nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ các dấu hiệu của tội phạm khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.
Ví dụ: Chủ thể tội giết người trong khi đang thực hiện tội phạm đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người (Điều 123 BLHS) nhưng người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS) nếu hành vi đã thực hiện (trước khi dừng lại) thoả mãn các dấu hiệu của tội phạm này. Vậy với ví dụ, người phạm tội lúc đầu mong muốn giết người nhưng họ sau khi đánh, đấm nạn nhân bị thường nặng đủ cấu thành tội cố ý gây thương tích thì họ đã tự từ bỏ và không tiếp tục thực hiện.
 

4. Phạm tội chưa đạt được quy định như thế nào?

- Cơ sở pháp lý: Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 15. Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Phạm tội chưa đạt được hiểu theo Điều 15 Bộ luật hình sự hiện hành đó là việc cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Điều luật cũng quy định: Người phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt theo quy định pháp luật.
 
Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt, ngoài việc phải áp dụng điểm, khoản, điều luật quy định về tội phạm đó, cần phải áp dụng Điều 57 Bộ luật hình sự hiện hành để quyết định hình phạt, cụ thể:

Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Tình tiết phạm tội chưa đạt đối với các tội danh cụ thể như tội giết người, tội hiếp dâm, tội trộm cắp tài sản, tội cướp tài sản, cướp giật tài sản…
Ví dụ: Tình tiết phạm tội chưa đạt đối với tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật hình sự
Người phạm tội chưa đạt do bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích với tính chất và mức độ hành vi nguy hiểm có khả năng gây chết người, tuy nhiên hậu quả chết người không xảy ra do khách quan, nằm ngoài ý chí của người phạm tội.
Với trường hợp này người phạm tội cũng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của oháp luật.
 

5. Những điều kiện để thỏa mãn tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tình huống: Thưa Luật sư, cho em hỏi một người được coi là tự ý chấm dứt việc phạm tội cần những điều kiện nào ạ?

Trả lời:

Chào bạn, đại diện cho Luật Minh Khuê xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

- Cơ sở pháp lý: Điều 16 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Theo quy định trên, ta có thể thấy những điều kiện để một người được coi là tự ý chấm dứt việc phạm tội, đó là những điều kiện sau:

– Thứ nhất, mặt khách quan của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội:

Việc chấm dứt phạm tội có thể chỉ xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.

Ví dụ: Người phạm tội hiếp dâm mới thực hiện hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực mà chưa thực hiện hành vi giao cấu được đối với nạn nhân.

Khi phạm tội đã hoàn thành thì điều đó sẽ không còn điều kiện (cơ sở) để tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội của mình nữa, bởi vì khi đó hành vi đã thực hiện đã có đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện. Việc dừng lại lúc này hoàn toàn không làm thay đổi tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện.

– Thứ hai, về mặt chủ quan của tự ý chấm dứt thực hiện hành vi phạm tội:

Việc chấm dứt tội phạm phải là sự chấm dứt tự nguyện và dứt khoát, không được chấm dứt nửa vời.

Nếu dừng lại không thực hiện tội phạm là do nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội, thì việc dừng lại này không được coi là tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội, mà có thể là chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.

 

Trân trọng!