1. Trách nhiệm hình sự của Pháp nhân là gì?

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước nhà nước, do pháp nhân đó thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

2. Nội dung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân xác định nội dung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Theo đó, nội dung cần thiết phải được xây dựng khi quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là:

-         Điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân;

-         Phạm vi chủ thể được xác định là pháp nhấn;

-         Phạm vi các tội pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự;

-         Các chế tài đối với pháp nhân.

3. Trách nhiệm hình sự của Pháp nhân trong Bộ luật hình sự mẫu của Mỹ

Mặc dù dưới “Hiến pháp Mỹ, quyền lực để áp đặt TNHS nhìn chung là dành chủ yếu cho các tiểu bang,” và do đó “luật hình sự của Mỹ được pháp điển hóa trong năm mươi hai bộ luật hình sự khác nhau” vẫn còn có những tương đồng giữa các bộ luật, “do ảnh hưởng từ Bộ luật hình sự mẫu của Viện nghiên cứu luật Mỹ. Đối với TNHS của doanh nghiệp, cách tiếp cận của Bộ luật là “hạn chế hơn so với đa số các thẩm quyền phán quyết được sử dụng tại Mỹ. Xử phạt doanh nghiệp trong các trường hợp vi phạm chỉ áp dụng nếu doanh nghiệp vi phạm một nghĩa vụ nào đó do luật định hoặc nếu việc phạm tội là do sự bất cẩn của ít nhất một trong số các lãnh đạo cấp cao.

>> Xem thêm:  Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là gì ? Cho ví dụ về độ tuổi chịu TNHS ?

 Bộ luật hình sự mẫu phân chia doanh nghiệp phạm tội thành ba nhóm với các hệ thống trách nhiệm khác nhau. Nhóm đầu tiên bao gồm các hành vi phạm tội phổ biến đòi hỏi phải có ý định phạm tội nhằm áp đặt trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp, thông thường là do cá nhân vi phạm như gian lận hoặc giết người ở cấp độ hai. Đối với các hành vi phạm tội này, Bộ luật “cung cấp các hình phạt đối với các doanh nghiệp chỉ khi tội phạm đã được thực hiện, hoặc ít nhất cũng đã được cho phép, ra lệnh hoặc do sơ xuất bởi ban giám đốc hoặc bởi lãnh đạo chi nhánh hành động thay mặt cho doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền của mình”.

Nhóm thứ hai bao gồm các tội phạm chứa đựng yêu cầu về ý định phạm tội của doanh nghiệp (ví dụ như sự đồng mưu kinh doanh). Ở đây, Bộ luật hình sự mẫu theo thuyết trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, quy định rằng doanh nghiệp sẽ bị trừng phạt đối với những tội phạm mà không cần quan tâm tới vị trí của người phạm tội trong doanh nghiệp hay người phạm tội đã hành động trong phạm vi của công việc của mình và với mục đích có lợi cho tập đoàn. Ngoài ra, Bộ luật hình sự mẫu tạo ra cơ chế biện hộ có lợi cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có thể chứng minh rằng một người giám sát có trách nhiệm cao hơn chủ thể của hành vi phạm tội đã làm việc rất tận tâm để ngăn chặn việc phạm tội, thì doanh nghiệp có thể không bị trừng phạt.

Cuối cùng, nhóm thứ ba được dựa trên các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối và đối với những tội phạm này thì theo Bộ luật hình sự mẫu, trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, các doanh nghiệp có thể phải chịu TNHS mà không cần có bằng chứng về ý định hoặc yếu tố vật chất khác của hành vi phạm tội và cũng không cần thiết phải chứng minh việc phạm tội với mục đích có lợi cho doanh nghiệp.

4. Các quy định khác của pháp luật Mỹ về trách nhiệm hình sự của Pháp nhân 

 “Tại Mỹ, pháp nhân được coi là chủ thể có thể bị đưa ra xét xử và bị kết án đối với những tội phạm do cá nhân giám đốc, người quản lý và thậm chí cả nhân viên ở cấp thấp thực hiện”. Mỹ là quốc gia áp dụng “TNHS đặc trưng để bổ sung cho những quy định dân sự và hành chính”, điều mà những quốc gia khác sử dụng với tư cách là công cụ để điều chỉnh những hoạt động của các pháp nhân.

 Tuy nhiên, nhiều chuyên gia và học giả không đồng ý vì nghi ngờ cách thức mà người Mỹ tiến hành hiện nay có lợi hay gây hại nhiều hơn. Edward Diskant chỉ ra rằng, chỉ riêng quá trình đưa ra bản cáo trạng thôi cũng có thể có "tác động hủy hoại về tài chính và uy tín, và điều này có thể làm hỏng công việc kinh doanh của các công ty. Và hệ quả là, nhận thức chung trong cộng đồng kinh doanh đối với việc kết tội pháp nhân chính là cú đánh có khả năng khai tử đối với một công ty, và như vậy công ty khó có thể phục hồi ngay cả khi nó thực sự là vô tội".

Theo quy định của pháp luật hình sự, một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi thực hiện hành vi rõ ràng là cố ý. Pháp nhân, khác với con người, không có khả năng nhận thức được phạm trù đạo đức, do đó, làm sao có thể truy cứu TNHS pháp nhân? Theo luật Mỹ, câu trả lời nằm trong hành động và quyết định của các nhân viên của pháp nhân đó. Tòa án thượng thẩm liên bang của Mỹ đã đưa ra phán quyết “hoạt động của pháp nhân, cuối cùng, là những hành động của các nhân viên của mình trong phạm vi thẩm quyền được trao”.

Để truy cứu TNHS pháp nhân, luật hình sự Mỹ yêu cầu xác định chủ ý trong các hoạt động của pháp nhân đó thông qua các hành động của nhân viên. Nếu nhân viên có “thẩm quyền thực tế” hay "thẩm quyền trên cơ sở dự đoán hợp lý" để hành động, trong đó “thẩm quyền thực tế” được hiểu là thẩm quyền do pháp nhân trao cho nhân viên này, “thẩm quyền trên cơ sở dự đoán hợp lý” được định nghĩa là “thẩm quyền, trong đó, theo các bên thứ ba, theo sắp đặt đại diện của tổ chức, xuất phát từ trách nhiệm và nghĩa vụ phải thực hiện của họ trong pháp nhân, có liên quan đến các hành động trước đây của mình”.

5. Hình phạt đối với pháp nhân theo luật pháp Mỹ

Không giống như cá nhân, tổ chức không thể bị phạt tù, do đó tại Mỹ, phạt tiền được coi là hình phạt chủ yếu, cơ bản để áp dụng với pháp nhân. Tuy nhiên, cách tính số tiền phạt trong từng trường hợp cụ thể cũng được quy định cụ thể. Theo Luật về cải cách áp dụng hình phạt vào năm 1984, loại hình phạt áp dụng bởi Tòa án liên bang Mỹ, soạn thảo bởi Ủy ban áp dụng hình phạt của Mỹ, đối với hình phạt cho các doanh nghiệp, Ủy ban quyết định như sau: “Hướng dẫn về áp dụng hình phạt đối với các tổ chức được thiết lập để tất cả các biện pháp trừng phạt đối với các tổ chức và đại diện của họ, bảo đảm hình phạt công bằng và các biện pháp thích hợp ngăn chặn sẽ khuyến khích các tổ chức sử dụng cơ chế nội bộ để ngăn chặn, phát hiện và ghi lại các hoạt động bất hợp pháp”.

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ

Theo khuyến nghị của Ủy ban áp dụng hình phạt, đối với việc thi hành bản án của các tổ chức, tòa án trước tiên phải “buộc các tổ chức bồi thường mọi thiệt hại gây ra bởi hành động phạm pháp của mình” nhằm khôi phục toàn vẹn cho những người bị hại. Nói cách khác, trước khi tòa án áp dụng phạt tiền đối với tổ chức, thì cần phải bồi thường cho các nạn nhân. Sau đó, tòa án phải xác định thực hiện hay không “hoạt động của tổ chức chủ yếu cho mục đích tội phạm hay chủ yếu bằng các phương thức phạm tội". Trong trường hợp này, tòa án buộc phải áp dụng chế tài tiền trong phạm vi “đủ để loại bỏ tổ chức này và tất cả tài sản của nó”. Như vậy, trong ví dụ giả định trên, việc hối lộ quan chức chính phủ của doanh nghiệp để có được hợp đồng béo bở, khi áp dụng hình phạt thì tòa án kết án phải tính toán tổng giá trị các tài sản của doanh nghiệp và phạt tiền ở mức bảo đảm cho doanh nghiệp phá sản.

Trong mọi trường hợp, khi áp dụng hình phạt dưới hình thức chế tài phạt tiền thích đáng thì tòa án phải cân nhắc hai yếu tố - mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lỗi của tổ chức. Yếu tố đầu tiên, “mức độ nghiêm trọng của tội phạm” được xác định bằng cách tính toán lợi ích về tiền tệ, và các thiệt hại gây ra cho người bị hại bởi những hành động bất hợp pháp. Nói cách khác, số tiền mà tổ chức “kiếm được” càng lớn bằng cách phạm tội và các thiệt hại gây ra cho người bị hại càng đáng kể thì mức độ nghiêm trọng của tội phạm càng cao. Yếu tố thứ hai, “lỗi của tổ chức” xác định dựa trên một số yếu tố khác có thể được tóm tắt như sau: i) các biện pháp của tổ chức nhằm phòng ngừa việc phát hiện và điều tra các hành động bất hợp pháp mà tổ chức đã thực hiện tính đến thời điểm thực hiện tội phạm; ii) mức độ tham gia của nhân viên trong các hoạt động bất hợp pháp hoặc mức độ khoan dung đối với hoạt động bất hợp pháp; iii) hành động của tổ chức sau khi phạm tội; iv) lịch sử hoạt động của tổ chức.

Đối với các biện pháp của tổ chức để ngăn chặn việc phát hiện và điều tra hành vi bất hợp pháp đến thời điểm phạm tội, toà án đánh giá mức độ hiệu quả trong nội bộ doanh nghiệp về “các kế hoạch tuân thủ những tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức”. Để hỗ trợ cho các thẩm phán trong việc đánh giá này, Uỷ ban áp dụng hình phạt xác định những tiêu chí sau đây để xác định mức độ hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức:

- Các tổ chức phải soạn thảo và thực hiện chính sách tiêu chuẩn và thủ tục để phòng ngừa và phát hiện các hoạt động bất hợp pháp.

- Bộ phận quản lý của tổ chức cần biết về các nội dung và việc áp dụng các kế hoạch theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức và thực hiện quyền kiểm soát hợp lý trong việc thực hiện và tính hiệu quả của kế hoạch thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; Người quản lý cao nhất của tổ chức phải đảm bảo rằng tổ chức có một kế hoạch hiệu quả về việc tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức phù hợp với yêu cầu đặt ra trong hướng dẫn này. Trong số lãnh đạo cao cấp chỉ định một hoặc một số người chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; Một hoặc một số nhân viên cụ thể phải kiểm soát hàng ngày đối với việc thực hiện kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Một hoặc một số nhân viên chịu trách nhiệm kiểm soát hoạt động được yêu cầu phải nộp báo cáo thường xuyên cho cấp trên và trong trường hợp cần thiết, quản lý cấp trên hoặc cơ quan quản lý cấp trên về hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Nhân viên thực hiện kiểm soát hoạt động được cung cấp nguồn lực đầy đủ, quyền hạn đầy đủ và có thể trực tiếp gặp quản lý cấp cao hoặc cơ quan quản lý cấp cao của tổ chức.

- Tổ chức phải có biện pháp hợp lý để ngăn chặn các nhân viên có thẩm quyền trước đó đã tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp hoặc các hành vi vi phạm mà không phù hợp với các nguyên tắc của một kế hoạch hiệu quả cho phù hợp với tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

- Tổ chức phải thực hiện các bước hợp lý để thường xuyên và với hình thức thiết thực để thu nhận thông tin của nhân viên nêu tại điểm (ii), quy định tiêu chuẩn, thủ tục và các khía cạnh khác của kế hoạch để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm cả việc tổ chức các khóa đào tạo hiệu quả và sử dụng những cách khác để cung cấp cho nhân viên như thông tin mà họ cần phải thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình; (ii) Người lao động nêu tại điểm 2i, là thành viên của cơ quan điều hành tối cao, quản lý cấp cao, các nhân viên với cấp bậc cao hơn, các nhân viên chủ chốt của tổ chức và khi thích hợp, là đại diện của tổ chức.

- Tổ chức phải thực hiện các biện pháp hợp lý nhằm: (i) đảm bảo phù hợp với các kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm cả giám sát và kiểm tra để phát hiện hành vi trái pháp luật; (ii) thường xuyên đánh giá hiệu quả của việc tuân thủ của tổ chức này với các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; (iii) và thực hiện một hệ thống để thông báo cho tất cả nhân viên thực hiện các cơ chế để đảm bảo ẩn danh và bảo mật, thông qua đó nhân viên và đại diện tổ chức có thể không sợ bị trả thù, nói về việc sắp làm hay việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc được tư vấn về hành động của họ liên quan chuẩn bị hoặc tội phạm đã thực hiện.

- Để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức cần (i) khuyến khích thực hiện nhiệm vụ theo quy định của chương trình cho phù hợp với luật pháp và đạo đức (ii) các biện pháp xử lý kỷ luật thích đáng đối với những hành động bất hợp pháp và không tuân thủ việc thực hiện các bước hợp lý để ngăn chặn hoặc phát hiện những hoạt động trái pháp luật.

- Sau khi hành vi bất hợp pháp bị phát hiện, các tổ chức có trách nhiệm thực hiện các biện pháp hợp lý để điều chỉnh đối với vi phạm pháp luật và ngăn ngừa việc thực hiện những hành vi phạm pháp tương tự trong tương lai, bao gồm cả việc tiến hành thay đổi và bổ sung cần thiết vào chương trình để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

>> Xem thêm:  Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm ?

- Các tổ chức phải thường xuyên đánh giá rủi ro của các hoạt động trái pháp luật và có biện pháp thích hợp để thực hiện, áp dụng, thay đổi từng mệnh lệnh để giảm nguy cơ vi phạm pháp luật, được phát hiện trong giai đoạn kiểm tra này.

Khi phân tích các yếu tố thứ hai - mức độ tham gia thực hiện tội phạm của các thành viên chủ chốt của các tổ chức - Toà án phải xem xét quy mô của tổ chức này (dựa trên tổng số nhân viên) và mức độ tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp trong tổ chức. Đối với yếu tố thứ ba - các hoạt động của tổ chức sau khi tội phạm, Toà án phải xác định xem các tổ chức có cản trở việc điều tra, xét xử trong một vụ án hình sự (tình tiết tăng nặng) hoặc ngược lại, hợp tác với cơ quan điều tra và thừa nhận trách nhiệm của mình đối với các việc phạm tội (tình tiết giảm nhẹ). Khi phân tích yếu tố thứ tư - lịch sử hoạt động của tổ chức, Toà án phải xác định được tổ chức trước đó có vi phạm pháp luật không, và đặc biệt là có vi phạm trong thời hạn 10 năm kể từ ngày áp dụng đối với tổ chức các chế tài xử lý về hình sự, dân sự hoặc hành chính đối với các vi phạm pháp luật tương tự.

Khi áp dụng một hình phạt thích hợp cần xem xét, đánh giá các yếu tố định lượng như lợi ích tài chính cho tổ chức và các yếu tố định tính như sự sẵn sàng của tổ chức trong hợp tác với cơ quan điều tra. Mặc dù không có yếu tố riêng lẻ nào mà không có những ý nghĩa nhất định, nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng, hành vi của tổ chức sau khi phát hiện ra vi phạm đóng một vai trò quan trọng. Ví dụ, trong vụ án Mỹ kiện Công ty Du lịch hàng hải Na Uy (Mỹ kiện Cruise Lines Na Uy) về hành vi vi phạm pháp luật môi trường, doanh nghiệp đã thừa nhận trách nhiệm của mình đối với hành vi phạm tội, góp phần tích cực điều tra và nộp phạt một triệu đôla.