1. Ý nghĩa của việc công bố sản phẩm

Công bố sản phẩm là một thủ tục bắt buộc pháp luật đặt ra đối với một số sản phẩm cụ thể. Thực hiện công bố sản phẩm là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khi tổ chức, cá nhân này kinh doanh, sản xuất các sản phẩm thuộc nhóm đối tượng phải công bố theo quy định của pháp luật.

Trên thực tế, công bố sản phẩm là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức thực hiện kinh doanh, sản phẩm mà pháp luật quy định cần thực hiện công bố, tuy nhiên, việc thực hiện công bố sản phẩm cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho cá nhân, tổ chức kinh doanh, một vào lợi ích có thể kể đến như: việc công bố sản phẩm là một phương thức để cá nhân, tổ chức khẳng định chất lượng sản phẩm, hàng hóa đáp ứng được các quy chuẩn kỹ thuật; thể hiện ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng; bên cạnh đó công bố sản phẩm còn giúp tăng độ uy tín của thương hiệu trên thị trường, từ đó có thể gây dựng được niềm tin của người dùng; việc công bố sản phẩm còn giúp tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh kinh doanh, xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài; tạo lợi thế cạnh tranh đối với các sản phẩm, hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp đối thủ nhưng chưa hoàn thành thủ tục công bố. Ngoài ra, việc công bố sản phẩm còn giúp doanh nghiệp kiểm soát sản xuất và kinh doanh.

2. Quy định của pháp luật hiện nay về công bố sản phẩm

Hiện nay, theo quy định của pháp luật tùy vào từng loại sản phẩm, pháp luật quy định áp dụng hình thức công bố khác nhau. Theo quy định trong Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 Nghị định Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm có quy định hai hình thức công bố sản phẩm là tự công bố sản phẩm và đăng ký bản công bố sản phẩm. Tùy vào từng loại sản phẩm cụ thể theo quy định của pháp luật mà cá nhân thực hiện công bố sản phẩm dưới hình thức tự công bố sản phẩm hay thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm.

Thủ tục tự công bố sản phẩm và thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm đều nhằm mục đích cuối cùng là công bố về các thành phần, tiêu chuẩn của sản phẩm theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo sản phẩm được sản xuất, kinh doanh đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn mà pháp luật quy định, góp phần giúp cơ quan có thẩm quyền thực hiện hiệu quả chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.  Tuy nhiên, thủ tục tự đăng ký sản phẩm và thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm có những sự khác biệt cơ bản ở một số khía cạnh như: hồ sơ công bố; trình tự, thủ tục mà luật quy định; các đối tượng phải thực hiện công bố ở hai thủ tục cũng có sự khác nhau căn bản. Nhìn chung, có thể thấy, thủ tục tự công bố sản phẩm có quy trình, trình tự cũng như hồ sơ đơn giản hơn so với thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm.

Đối với thủ tục tự đăng ký sản phẩm, về sản phẩm được thực hiện công bố dưới hình thức tự công bố sản phẩm được quy định cụ thể tại Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, về vấn đề hồ sơ, trình tự tự công bố sản phẩm được quy định cụ thể tại Điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Đối với hình thức đăng ký bản công bố sản phẩm, pháp luật quy định cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh các thực phẩm quy định tại Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP; về hồ sơ và thủ tục thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm, pháp luật có sự tách biệt giữa sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm sản xuất trong nước. Hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm đối với sản phẩm nhập khẩu được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 15/2018/NĐ-CP; hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm đối với sản phẩm sản xuất trong nước được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Về trình tự, thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm được quy định cụ thể tại Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP.

Có thể thấy, việc pháp luật hiện nay quy định hai thủ tục công bố sản phẩm xuất phát từ tính chất của từng loại sản phẩm. Theo đó, dựa trên những đặc trưng về công dụng, xuất xứ và mục đích sử dụng của sản phẩm mà pháp luật có quy định khác nhau về thủ tục công bố sản phẩm.Việc áp dụng hình thức tự công bố sản phẩm hay đăng ký bản công bố sản phẩm phụ thuộc vào sản phẩm cần công bố, và tùy theo hình thức công bố mà pháp luật quy định cụ thể các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ và trình tự, thủ tục thực hiện việc công bố. Các vấn đề trên được thực hiện cụ thể, và tương đối chi tiết tại Nghị định 15/2018/N Đ-CP Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm. 

3. Trình tự, thủ tục tự công bố sản phẩm

Trình tự, thủ tục tự công bố sản phẩm được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP Nghị đinh quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, theo đó việc tự công bố sản phẩm được thực hiện như sau:

- Các tổ chức, cá nhân tiến hành việc tự công bố sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các trang thông tin điện tử của mình hoặc có thể thực hiện niêm yết công khai tại trụ sở của tổ chức, cá nhân và công bố trên Hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm Nếu trong trường hợp, cơ quan, tổ chức chưa có Hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm thì tổ chức, cá nhân nộp 01 bản qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ định để lưu trữ hồ sơ và đăng tải tên tổ chức, cá nhân và tên các sản phẩm tự công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan tiếp nhận, trường hợp tổ chức, cá nhân có từ 02 cơ sở sản xuất trở lên cùng sản xuất một sản phẩm thì pháp luật quy định, tổ chức, cá nhân chỉ cần nộp hồ sơ tại một cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương có cơ sở sản xuất do tổ chức, cá nhân lựa chọn. Khi đã lựa chọn cơ quan quản lý nhà nước để nộp hồ sơ thì các lần tự công bố tiếp theo phải nộp hồ sơ tại cơ quan đã lựa chọn trước đó.

- Hiện nay, pháp luật quy định tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm ngay sau khi thực hiện tự công bố sản phẩm và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn của sản phẩm đó.

- Nếu trong trường hợp sản phẩm có sự thay đổi về các nội dung: tên sản phẩm, xuất xứ, thành phần cấu tạo thì tổ chức, cá nhân phải tự công bố lại sản phẩm. Các trường hợp có sự thay đổi khác, tổ chức, cá nhân thông báo bằng văn bản về nội dung thay đổi đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và được sản xuất, kinh doanh sản phẩm ngay sau khi gửi thông báo.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện nay, việc tự công bố được tổ chức, cá nhân thực hiện dưới các hình thức công bố trên các phương tiện thồn tin đại chúng; công bố trên các trang điện tử của cá nhân tổ chức hoặc thực hiện việc công bố thông qua việc niêm yết công khai tại trụ sở của tổ chức, cá nhân, sau đó phải công bố trên Hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm, và nếu như cá nhân, tổ chức chưa có Hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm thì tổ chức, cá nhân thực hiện việc nộp 01 bản đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định để lưu trữ hồ sơ và đăng thông tin của cá nhân, tổ chức và thông tin sản phẩm tự công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan. Hiện nay pháp luật có quy định cụ thể trong trường hợp cá nhân, tổ chức có 02 cơ sở trên lên cùng sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm thì cá nhân, tổ chức chỉ cần nộp 01 bộ hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà nước nơi đặt cơ sở.

Trên đây là một số nội dung về trình tự, thủ tục tự công bố sản phẩm. Để có thể hiểu rõ hơn về các nội dung có liên quan, tham khảo bài viết: Hướng dẫn, thủ tục công bố sản phẩm mới nhất

Mọi thắc mắc có liên quan tới các vấn đề pháp lý về nội dung trên liên hệ tổng đài 19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp chi tiết.

Trân trọng!