Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
- Hỏi cung là hoạt động tố tụng do Điều tra viên tiến hành khi có quyết định khởi tố bị can để lấy lời khai của người này về các tình tiết của các hành vi phạm tội. Hỏi cung là một hoạt động tố tụng nằm trong giai đoạn điều tra. Do vậy chủ thể, cách thức, trình tự, mục đích tiến hành có những đặc điểm riêng:
+ Chủ thể có thẩm quyền hỏi cung là Điều tra viên, là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự Bộ luật TTHS chỉ rõ: “việc hỏi cung bị can phải do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can”. Cũng tại khoản 3 Điều này có ghi: “trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể hỏi cung bị can”. Tại thông tư liên tịch có quy định rõ những trường hợp Kiểm sát viên có quyền hỏi cung bị can: “trong quá trình điều tra, khi có yêu cầu của Cơ quan điều tra hoặc qua kiểm sát việc hỏi cung phát hiện thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất lúc nhận tội, lúc không nhận tội; bị can có khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực của lời khai bị can; trường hợp vị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can. Khi cần hỏi cung, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng và thông báo trước cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.”. Ngoài ra, trong Quy chế tạm thời về công tác thi hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự của VKSNDTC cũng có quy định: “những vụ án phức tạp hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì Kiểm sát viên phải trực tiếp tham gia việc hỏi cung bị can cùng với Điều tra viên.”
+ Đối tượng hỏi cung là bị can. Theo Bộ luật TTHS thì:“bị can là người đã bị khởi tố về hình sự”. Không ai có thể bị coi là bị can nếu không có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền. Việc hỏi cung được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, nếu chưa có quyết định khởi tố bị can thì Kiểm sát viên không có quyền hỏi cung bị can.
+ Mục đích của hỏi cung là lấy lời khai của bị can về các tình tiết của vụ án, hành vi phạm tội của bị can cùng đồng phạm hoặc các tin tức tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa với công tác điều tra để làm chứng cứ trong quá trình chứng minh vụ án hình sự và những vấn đề khác có ý nghĩa đối với phòng chống tội phạm.
2. Các giai đoạn hỏi cung
Có thể phân quá trình hỏi cung bị can thành ba giai đoạn: Chuẩn bị hỏi cung, tiến hành hỏi cung, kết thúc hỏi cung.
2.1 Giai đoạn chuẩn bị hỏi cung
Trong giai đoạn này Điều tra viên tiến hành chuẩn bị những điều kiện cần thiết phục vụ cho hoạt động hỏi cung được diễn ra thuận lợi. Việc chuẩn bị chu đáo là điều kiện cho Điều tra viên chủ động, linh hoạt sáng tạo lựa chọn và áp dụng những chiến thuật hỏi cung cho phù hợp với từng tình huống cụ thể để thu thập lời khai của bị can một cách đầy đủ, chính xác và thuận lợi, không bị rơi vào thế bị động, lúng túng trước những đối tượng hỏi cung và diễn biến phức tạp của quá trình hỏi cung.
+ Nghiên cứu hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan
Hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan bao gồm:
* Những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được từ những biện pháp điều tra như: biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, kết quả giám định.
* Những tài liệu khác có liên quan: trích lục tiền án, tiền sự, hồ sơ, tài liệu về những vụ án do bị can đã gây ra trước đó, những tài liệu thu được từ những biện pháp trinh sát, phản ánh mối quan hệ mang tính chất tội phạm của bị can những biểu hiện nghi vấn của bị can trước, trong và sau khi xảy ra vụ án.
* Những tài liệu, chứng cứ thu thập được về những vụ án chưa được điều tra, khám phá mà Điều tra viên có cơ sở xác định bị can có liên quan.
Để làm rõ quá trình nghiên cứu, Điều tra viên cần tổng hợp, phân loại tài liệu, căn cứ theo ý nghĩa của từng loại tài liệu, chứng cứ đối với việc hỏi cung, đồng thời cần đối chiếu, so sánh, tìm ra những mâu thuẫn nếu có.
Những tài liệu trên giúp cho Điều tra viên nắm được tất cả nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can và những đồng phạm khác (nếu có) giúp cho việc xác định chính xác những vấn đề cần làm rõ trong khi hỏi cung, lựa chọn những tài liệu, căn cứ có thể và cần phải được sử dụng trong quá trình hỏi cung bị can.
+ Nghiên cứu nhân thân bị can
Là việc nghiên cứu những đặc điểm riêng về mặt xã hội hoặc có ý nghĩa về mặt xã hội của bị can. Những đặc điểm nhân thân đó có thể là: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, có án tích (tái phạm, tái phạm nguy hiểm...), trình độ văn hóa, hệ thống giá trị, thái độ... Những tài liệu về nhân thân, Điều tra viên có thể thu thập và nghiên cứu qua hồ sơ cán bộ, trích lục tiền án, tiền sự... của bị can.
+ Lập kế hoạch hỏi cung
* Xác định vấn đề cần làm rõ trong quá trình hỏi cung, căn cứ vào Điều 63 Bộ luật TTHS quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự thì những vấn đề đó bao gồm các tình tiết mà bị can biết liên quan đến vụ án, có thể là các tình tiết xác định các yếu tố cấu thành tội phạm, tình tiết về nhân thân người phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị can, tình tiết xác định tính chất, mức độ của thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm và những tin tức, tài liệu khác có ý nghĩa trong việc điều tra và phòng ngừa tội phạm.
* Dự kiến phương pháp và thủ thuật định sử dụng trong hỏi cung
Trên cơ sở những vấn đề cần làm rõ trong việc hỏi cung, những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đặc điểm nhân thân của bị can, thái độ khai báo của bị can, trong bản kế hoạch hỏi cung cần dự kiến phương pháp và thủ thuật định sử dụng trong hỏi cung trong từng tình huống có thể xảy ra như: bị can thành khẩn khai báo, bị can từ chối khai báo, khai gian và những biện pháp hỗ trợ khác cho việc hỏi cung như xây dựng đặc tính trại tạm giam và tiến hành những biện pháp trinh sát khác, đặc biệt Điều tra viên cần dự tính thời điểm nào cần phải sử dụng tài liệu, chứng cứ nào, hỏi cung như thế nào cho hợp lí và đạt được hiệu quả.
+ Dự kiến thời gian và địa điểm tiến hành hỏi cung:
* Địa điểm: khoản 1 Điều 131 Bộ luật TTHS quy định: “...có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó.” Lựa chọn địa điểm hỏi cung tại trụ sở Cơ quan Điều tra hoặc tại nơi ở của bị can, cũng có thể tại trại tạm giam hoặc bệnh viện là tùy thuộc vào tình huống cụ thể. Tuy nhiên, Điều tra viên cần cố gắng lựa chọn địa điểm thuận lợi cho việc hỏi cung nhưng không để cho bị can chạy trốn, hành hung cán bộ hỏi cung. Địa điểm hỏi cung phải nghiêm trang, có đủ điều kiện để thiết lập sự giao tiếp tâm lý giữa Điều tra viên và bị can, tập trung sự chú ý của bị can vào những vấn đề cần phải làm rõ, đảm bảo giữ bí mật cho hoạt động điều tra,v.v...
+ Thời gian: tại khoản 2 Điều 131 quy định: “không hỏi cung vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.”. Không được hỏi cung bị can vào ban đêm tức là từ 22h hôm trước đến 6h sáng ngày hôm sau. Ngoài ra, Điều tra viên không nên hỏi cung vào lúc bị can đang căng thẳng có xúc động mạnh.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho việc hỏi cung, Điều tra viên phải triệu tập bị can đến để hỏi cung.
2.2 Giai đoạn tiến hành hỏi cung và tác động tâm lý
+ Khi đã đến buồng hỏi cung, Điều tra viên tiến hành việc nhận dạng, kiểm tra căn cước của bị can nếu xét thấy cần thiết. Sau đó Điều tra viên tự giới thiệu về mình và tuyên bố cho bị can mục đích của việc hỏi cung. Điều 131 khoản 1 quy định: “trước khi hỏi cung, Điều tra viên phải đọc quyết định khởi tố bị can và giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này. Việc này phải được ghi vào biên bản.”
+ Tiến hành hỏi cung: Điều tra viên tiến hành sử dụng tác động tâm lý cho phù hợp có thể lần lượt hỏi bị can những câu hỏi đã được vạch ra trong kế hoạch hỏi cung hoặc cũng có thể yêu cầu bị can viết tự khai rồi sau đó mới theo kế hoạch hỏi cung và tiến hành tác động tâm lý tiếp theo. Trong quá trình tác động, nếu có đủ căn cứ để xác nhận bị can có thái độ mong muốn khai báo sự thật hoặc trên thực tế đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình thì Điều tra viên có thể nêu ra các câu hỏi yêu cầu bị can viết tự khai.
Trong quá trình bị can viết tự khai không nên đưa ra câu hỏi trừ trường hợp Điều tra viên thấy bị can khai lan man về những tình tiết không có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra, khi đó Điều tra viên sẽ đề nghị bị can khai vào những tình tiết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra. Điều tra viên cần ghi lại những gì cần phải chú ý với lời khai của bị can và những câu hỏi đặt ra cho bị can trả lời sau này.
+“Nếu vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can tự viết lời khai của mình.”(khoản 1 Điều 131 Bộ luật TTHS). Quy định này nhằm tránh sự thông cung giữa các bị can để khai báo sai sự thật. Vì vậy Điều tra viên phải sắp xếp thời gian triệu tập bị can để hỏi cung riêng, nếu vụ án do nhiều Điều tra viên tiến hành và cần hỏi nhiều bị can cùng một thời điểm thì phải bố trí các địa điểm hỏi cung riêng để bị can không được tiếp xúc với nhau.
+ Những nguyên tắc cần tuân thủ trong việc tác động tâm lý đối với bị can
Để thực hiện tốt những nhiệm vụ của hoạt động hỏi cung bị can, đòi hỏi chủ thể tiến hành tác động tâm lý đối với bị can phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định: Tuân theo những quy định chung tại chương II - Những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật TTHS, ngoài ra còn phải tuân theo (Nguyên tắc hoạt động điều tra) của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự
Tác động tâm lý đối với bị can phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ
* Khách quan: hoạt động xem xét, đánh giá sự vật hiện tượng phải căn cứ vào sự thực vốn có của sự vật hiện tượng đó, phải có nhận định trung thực, tránh định kiến chủ quan khi nhìn nhận chúng. Khi tiến hành hỏi cung, Điều tra viên cần có thái độ khách quan khi nhìn nhận tội phạm, người phạm tội hoặc các khía cạnh khác của vụ án. Thái độ khách quan cần phải được thể hiện ngay trong tư tưởng phương pháp công tác, trong việc phát hiện, thu thập, đánh giá chứng cứ.
* Toàn diện: nguyên tắc này được thể hiện trong nội dung thực hiện và áp dụng chính xác các điều luật của Bộ luật TTHS, BLHS, các chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước. Trong hỏi cung cần thu thập đánh giá cả những chứng cứ buộc tội lẫn gỡ tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can; nhân thân của họ, nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
* Đầy đủ: nguyên tắc này đòi hỏi sự tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc và các quy định cụ thể của Bộ luật TTHS nhằm làm sáng tỏ mọi tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, bởi lẽ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng.
+ Thận trọng, trọng cứ hơn trong cung, lời khai của bị can phải được thẩm tra, xác minh đảm bảo tính chính xác, rõ ràng
Lời khai của bị can giúp xác định được một phần hoặc toàn bộ sự thật khách quan của vụ án, âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của tội phạm, cách thức tổ chức đồng phạm của tội phạm, mọi lời khai của bị can phải được kiểm tra xác minh kĩ lưỡng. Theo Bộ luật TTHS thì lời khai của bị can chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Điều tra viên phải có trách nhiệm kiểm tra, thu thập, củng cố chứng cứ để đấu tranh với bị can. Điều tra viên phải xem xét, đánh giá kỹ lưỡng có so sánh, không được xem xét phiến diện, như vậy sẽ rơi vào tình trạng nhận thức một chiều. Trong nhiều vụ án, bị can thường khai đổ vấy cho người khác do vậy dễ bị làm oan người vô tội mà bỏ lọt tội phạm. Do vậy, điều tra viên phải có những phương pháp khoa học có nội dung, yêu cầu, kế hoạch thẩm tra, xác minh cụ thể, có sự phối hợp giữa các đơn vị các lực lượng nghiệp vụ, tuyệt đối không định kiến, không được có thái độ làm việc đại khái, vô trách nhiệm trong việc thẩm tra lời khai của bị can.
Điều tra viên có thể xác minh lời khai của bị can bằng nhiều cách, thông thường sự đánh giá sơ bộ về lời khai căn cứ vào trình độ hiểu biết sẵn có của cán bộ hỏi cung, quan trọng nhất là kiến thức về tội phạm và tâm lý tội phạm. Kết hợp tác động tâm lí là một biện pháp rất quan trọng có thể dùng các phương pháp thuyết phục, ám thị gián tiếp, tác động tình cảm... Điều tra viên khi sử dụng các biện pháp này cần phải có kiến thức vững vàng về các vấn đề đó, tránh rơi vào tình trạng dụ cung, mớm cung,v.v...
2.3 Giai đoạn kết thúc hỏi cung
+ Khi kết thúc hỏi cung, Điều tra viên cần hoàn chỉnh biên bản hỏi cung. Điều 132 Bộ luật TTHS quy định: “Biên bản hỏi cung bị can phải được lập theo quy định tại Điều 95 và Điều 125 của Bộ luật này”. Điều tra viên phải lập biên bản mỗi lần hỏi cung, biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Nếu Điều tra viên cố tình thêm bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Tác động tâm lý trong giai đoạn này chủ yếu sử dụng thuyết phục theo hướng phân tích thiệt, hơn.
Nếu hỏi cung gắn liền với sử dụng chứng cứ hoặc tiến hành hỏi cung theo hình thức hỏi và trả lời thì việc lập biên bản được tiến hành đồng thời với việc hỏi cung. Khi lập biên bản, Điều tra viên nghe lời khai sau đó đưa ra những câu hỏi để bị can làm rõ và ghi vào biên bản.
Biên bản hỏi cung không được tẩy xóa, sửa chữa, ghi thêm mà không được bị can xác nhận. Biên bản hỏi cung có thể được lập dưới dạng viết tay hoặc đánh máy.
Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung, phải phát lại để bị can và Điều tra viên cùng nghe. Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bị can và Điều tra viên cùng ký xác nhận. Điều tra viên có thể ghi âm lại lời khai của bị can trong một số trường hợp như: Khi sao chép lời khai của bị can đã gây ra những vụ án nghiêm trọng. Khi mô tả và sao chép lời khai của những người không có khả năng đến do ở quá xa hoặc do hạn chế về tình trạng sức khỏe. Khi ghi lời khai của kẻ phạm tội ra tự thú, họ tự nguyện khai báo nên thường khai báo nhiều vấn đề, nhiều tình tiết, ghi âm trong trường hợp này nhằm nâng cao tính khẩn cấp của đối tượng tự thú.
Điều tra viên phải đọc lại biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trong trường hợp có bổ sung và sửa chữa biên bản thì bị can và Điều tra viên cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang của biên bản. Trong trường hợp bị can tự viết lời khai thì Điều tra viên và bị can cùng ký xác nhận tờ khai đó. Nếu hỏi cung bị can có người phiên dịch, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can thì người phiên dịch và bị can ký vào từng trang của biên bản hỏi cung, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can cùng ký vào biên bản hỏi cung.
+ Tác động tâm lý theo hướng tích cực, gây hưng phấn hoặc trạng thái, tâm trạng nhẹ nhõm ở bị can.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê