Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức xã hội - chính trị của các cựu chiến binh của các lực lượng vũ trang và bán vũ trang trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia qua các thời kỳ, của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
1. Chế độ trợ cấp đối với Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã khi thôi công tác Hội
Theo hướng dẫn của Điều 4
Thông tư 03/2020/TT-BLĐTBXH, chế độ trợ cấp khi thôi công tác Hội cựu chiến binh theo quy định tại Nghị định 157/2016/NĐ-CP được xác định rõ như sau:
Khoản 1 Điều 4 của Thông tư 03/2020/TT-BLĐTBXH chỉ ra chế độ và chính sách áp dụng đối với Cựu chiến binh, theo quy định tại Nghị định 157/2016/NĐ-CP. Trong đó, mục 1 của Khoản 5 Điều 1 Nghị định 157/2016/NĐ-CP quy định về đối tượng hưởng trợ cấp khi thôi công tác Hội cựu chiến binh. Cụ thể:
- Đối tượng hưởng trợ cấp khi thôi công tác Hội:
+ Cựu chiến binh được bầu cử, bổ nhiệm, tuyển dụng tham gia công tác tại cơ quan Hội Cựu chiến binh từ Trung ương đến cấp huyện;
+ Cựu chiến binh là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã;
+ Cựu chiến binh là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã;
Như vậy, khi Cựu chiến binh đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng hàng tháng và thôi công tác Hội, họ sẽ được hưởng trợ cấp thôi công tác Hội theo các đối tượng quy định tại Nghị định 157/2016/NĐ-CP. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi và phúc lợi cho những người đã có đóng góp đặc biệt cho cộng đồng và cách mạng.
Ngoài ra, theo quy định của Khoản 5 Điều 10 Nghị định 150/2006/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 157/2016/NĐ-CP), chế độ và chính sách đối với Cựu chiến binh đang làm công tác Hội Cựu chiến binh được điều chỉnh và cụ thể hóa như sau:
- Cựu chiến binh đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng đảm nhiệm chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã; cựu chiến binh tham gia công tác tại cơ quan Hội Cựu chiến binh từ cấp huyện trở lên khi thôi làm công tác hội thì được hưởng chế độ, chính sách như sau:
+ Ở cấp xã: Đối với Chủ tịch, sau mỗi năm tham gia công tác hội, họ sẽ được hưởng trợ cấp một lần bằng nửa (1/2) tháng lương hiện hưởng (bao gồm mức lương theo chức danh và phụ cấp chức vụ lãnh đạo). Phó Chủ tịch cũng được hưởng trợ cấp một lần bằng nửa (1/2) tháng phụ cấp hiện hưởng. Thời gian công tác để tính trợ cấp sẽ tuân theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
+ Ở cấp huyện trở lên: Cứ mỗi năm tham gia công tác hội, Cựu chiến binh sẽ được hưởng trợ cấp một lần, tương đương nửa (1/2) tháng lương hiện hưởng (bao gồm mức lương theo chức danh và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, nếu có). Thời gian công tác để tính trợ cấp sẽ được áp dụng theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều này nhằm đảm bảo rằng Cựu chiến binh, đặc biệt là những người đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo trong Hội Cựu chiến binh, sẽ được đối đãi công bằng và nhận được sự hỗ trợ xứng đáng trong quá trình đóng góp vào công việc cộng đồng.
Theo quy định Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng hàng tháng, khi thôi công tác Hội được hưởng trợ cấp thôi công tác Hội, cụ thể:
Cứ mỗi năm tham gia công tác Hội được hưởng trợ cấp một lần bằng nửa (1/2) tháng lương hiện hưởng.
2. Cách tính trợ cấp thôi công tác Hội đối với Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã
Dựa trên quy định tại Điều 4 Thông tư 03/2020/TT-BLĐTBXH, điểm b, chế độ và chính sách đối với Cựu chiến binh tham gia công tác Hội Cựu chiến binh theo quy định của Nghị định 157/2016/NĐ-CP được mô tả cụ thể như sau:
Chính sách trợ cấp mỗi năm cho Cựu chiến binh tham gia công tác Hội Cựu chiến binh:
Theo Khoản 2 Điều 4 Thông tư 03/2020/TT-BLĐTBXH, Cựu chiến binh tham gia công tác Hội sẽ được hưởng trợ cấp mỗi năm, được tính dựa trên các yếu tố sau:
- Lương hiện hưởng:
+ Là tháng lương cuối cùng tại cấp Hội nơi đang công tác.
+ Không tính phụ cấp đảng, đoàn thể chính trị - xã hội và phụ cấp công vụ.
+ Bao gồm mức lương theo chức danh và cộng thêm phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có).
+ Cộng thêm 5% mức lương tái cử, tái bổ nhiệm theo quy định tại Hướng dẫn 05-HD/BTCTW năm 2011 của Ban Tổ chức Trung ương (nếu có).
- Cách tính trợ cấp: Trợ cấp thôi công tác Hội được tính theo công thức:
Trợ cấp thôi công tác Hội = (Lương theo chức danh + Phụ cấp chức vụ (nếu có) + 5% mức lương tái cử, tái bổ nhiệm (nếu có)/2) x Số năm công tác.
Như vậy, chính sách này đảm bảo rằng Cựu chiến binh đang làm công tác Hội sẽ được đền đáp xứng đáng, thể hiện cam kết của Nhà nước đối với sự đóng góp và cống hiến của họ trong công việc cộng đồng và xã hội.
3. Thẩm quyền ra quyết định thôi công tác Hội đối với Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã thuộc về ai?
Dựa vào quy định tại Khoản 3 Điều 4 Thông tư 03/2020/TT-BLĐTBXH, chế độ và thẩm quyền ra quyết định thôi công tác Hội Cựu chiến binh theo quy định của Nghị định 157/2016/NĐ-CP được mô tả chi tiết như sau:
Thẩm quyền ra quyết định thôi công tác Hội cho Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã:
- Cơ sở thẩm quyền:Cơ sở quyết định thôi công tác Hội đối với cán bộ Cựu chiến binh tập trung vào ý kiến bằng văn bản của cấp ủy có thẩm quyền theo phân cấp. Đầu tiên, cấp ủy sẽ có ý kiến về các vấn đề liên quan đến bổ nhiệm, tuyển dụng, nghỉ hưu, nghỉ công tác đối với Cựu chiến binh tham gia công tác Hội. Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh hoặc Thường trực Hội Cựu chiến binh tại cấp có thẩm quyền sẽ phải chuẩn y kết quả bầu cử, bổ nhiệm, tuyển dụng cán bộ tham gia công tác Hội.
Sau khi đã có ý kiến của cấp ủy và sự chấp thuận từ Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp đó sẽ đảm nhận thẩm quyền cuối cùng và ra quyết định thôi công tác Hội đối với cán bộ. Quyết định này sẽ phản ánh sự đồng thuận và chấp nhận từ cấp lãnh đạo và tổ chức Hội, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và chính xác trong việc quyết định số phận công tác của cán bộ Cựu chiến binh.
Qua đó, quy trình này nhằm đảm bảo rằng quyết định thôi công tác Hội được thực hiện một cách công bằng và có sự tập trung của các cấp lãnh đạo và cộng đồng Hội Cựu chiến binh
- Tổ chức Hội Cựu chiến binh ở mọi cấp đều chịu trách nhiệm quan trọng trong việc chi trả trợ cấp thôi công tác Hội cho cán bộ thuộc quản lý của mình, đặc biệt khi Cựu chiến binh đó đã có quyết định thôi công tác Hội của cấp có thẩm quyền.
Trách nhiệm này thể hiện sự quan tâm và hỗ trợ của tổ chức đối với những Cựu chiến binh đã và đang đóng góp vào công tác Hội. Khi Cựu chiến binh quyết định thôi công tác Hội, tổ chức Hội Cựu chiến binh tại cấp có thẩm quyền sẽ đảm nhận việc chi trả trợ cấp theo quy định.
Quy trình chi trả trợ cấp này có thể bao gồm việc xác nhận quyết định thôi công tác Hội của Cựu chiến binh, kiểm tra và xác định các yếu tố cần thiết để tính toán số tiền trợ cấp. Ngoài ra, tổ chức Hội cũng có trách nhiệm thông báo và hướng dẫn cán bộ về quy trình và điều kiện nhận trợ cấp thôi công tác Hội.
Điều này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho Cựu chiến binh khi họ quyết định thôi công tác Hội mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết và sự chăm sóc đặc biệt của tổ chức Hội Cựu chiến binh đối với thành viên trong cộng đồng. Đồng thời, nó còn đóng góp vào việc thúc đẩy tinh thần tích cực và sự cam kết của các Cựu chiến binh đối với công việc cộng đồng và Hội Cựu chiến binh.
- Quy trình xác định thẩm quyền: Đối với Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, thẩm quyền ra quyết định thôi công tác Hội được xác định dựa trên kết quả bầu cử, bổ nhiệm, tuyển dụng cán bộ tham gia công tác Hội do Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp đó chuẩn y. Sau khi có ý kiến bằng văn bản của cấp ủy có thẩm quyền, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã có thẩm quyền ra quyết định thôi công tác Hội đối với cán bộ.
Như vậy, quy trình và thẩm quyền trong quá trình thôi công tác Hội cho Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã được quy định rõ, nhằm đảm bảo quyết định được đưa ra một cách công bằng và minh bạch.
Xem thêm bài viết: Cần giấy tờ gì để được kết nạp hội cựu chiến binh Việt Nam?
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật nhanh chóng