1. Hội Cựu chiến binh được hiểu thế nào?

Theo quy định của Pháp lệnh Cựu chiến binh 2005, Cựu chiến binh được xác định là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ quốc tế, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hội Cựu chiến binh được coi là một tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Cựu chiến binh, đồng thời là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân và thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam có những chức năng như sau:

  • Đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của Cựu chiến binh.
  • Tham mưu giúp cấp ủy Đảng và đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết và vận động Cựu chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị-xã hội của cách mạng.
  • Tham gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước.

Nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh Việt Nam bao gồm:

  • Tham gia vào quá trình xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và chế độ Xã hội chủ nghĩa.
  • Đấu tranh chống lại mọi âm mưu và hoạt động phá hoại của thế lực thù địch.
  • Chống lại những quan điểm đối lập với đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước.
  • Thực hiện các quy định dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, và tệ nạn xã hội.
  • Giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước và các cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.
  • Tham gia vào phát triển kinh tế-xã hội và củng cố quốc phòng-an ninh. Hơn nữa, Hội cũng có nhiệm vụ kiến nghị với cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh.

Với nhiệm vụ và chức năng của mình, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã đóng góp vào việc hoàn thành các mục tiêu của Đảng và Nhà nước, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển vững mạnh của đất nước.

 

2. Đối tượng được công nhận là Cựu chiến binh

Theo quy định của Nghị định 150/2006/NĐ-CP (đã sửa đổi bởi Nghị định 157/2016/NĐ-CP), để được công nhận là Cựu chiến binh, đối tượng phải tuân thủ các điều kiện sau:

- Cán bộ và chiến sĩ đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, bao gồm Đội tự vệ đỏ, du kích Ba Tơ, du kích Bắc Sơn, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và các đơn vị khác do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.

- Cán bộ và chiến sĩ gồm sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc, và làm nhiệm vụ quốc tế từ ngày 30/4/1975 trở về trước (ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng).

- Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc gồm:

  • Đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm ở miền Bắc từ ngày 20/7/1954 trở về trước (ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương).
  • Cán bộ và chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Bắc từ ngày 27/01/1973 trở về trước (ngày ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc), đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.
  • Cán bộ và chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích ở miền Nam từ ngày 30/4/1975 trở về trước, đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu theo sự quản lý, phân công hoặc giao nhiệm vụ của tổ chức, cơ sở cách mạng có thẩm quyền.

- Công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm từ ngày 30/4/1975 trở về trước.

- Cán bộ và chiến sĩ gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam đã tham gia chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế, và trực tiếp phục vụ chiến đấu trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ và chiến sĩ dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền sau ngày 30/4/1975. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã phục vụ, nghỉ hưu hoặc chuyển ngành.

Tuy nhiên, theo khoản 6 Điều 2 của Nghị định 150/2006/NĐ-CP, các đối tượng sau đây sẽ không được công nhận là Cựu chiến binh:

- Những người đã đầu hàng địch, phản bội, vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân, và công nhân viên quốc phòng bị kỷ luật buộc thôi việc.

- Những người đã bị kết án tù mà chưa được xoá án tích.

 

3. Căn cứ để xác nhận cựu chiến binh

Việc xác nhận cựu chiến binh được quy định theo khoản 7 Điều 2 của Nghị định 150/2006/NĐ-CP như sau:

- Việc xác nhận cựu chiến binh dựa trên hồ sơ của cựu chiến binh sau khi họ đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ, xuất ngũ, phục viên, nghỉ hưu tại địa phương. Quá trình xác nhận do cơ quan quân sự tại xã, phường, thị trấn nơi cựu chiến binh đang cư trú chủ trì và phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp để xác nhận.

- Trong trường hợp hồ sơ bị thất lạc, việc xác nhận cựu chiến binh được thực hiện bằng cách cơ quan quân sự cấp xã tại nơi cựu chiến binh nhập ngũ phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp để xem xét và xác minh lời khai của cựu chiến binh. Sau đó, cơ quan quân sự và Hội Cựu chiến binh lập danh sách để Ủy ban nhân dân tại nơi cựu chiến binh nhập ngũ tiến hành xác nhận.

- Việc xác nhận cựu chiến binh trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị được thực hiện dựa trên hồ sơ khi cựu chiến binh được tiếp nhận tại cơ quan, tổ chức, đơn vị đó. Quá trình xác nhận do cơ quan, tổ chức, đơn vị đó tiến hành xác nhận.

Trên đây là nội dung về quy trình xác nhận cựu chiến binh. Đối với việc xác nhận về thương tật theo các điều từ 6 đến 10 của Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP, hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh, không cần giấy tờ do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng ban hành. Trong trường hợp hồ sơ bị thất lạc, có thể áp dụng quy định tại điểm b để xác nhận cựu chiến binh.

 

4. Cần giấy tờ gì để được kết nạp hội cựu chiến binh

Trong quy trình đăng ký thành viên của Hội Cựu chiến binh, điều kiện bắt buộc là người muốn gia nhập phải nộp đơn xin gia nhập Hội. Mẫu đơn này là một văn bản được quy định trong Điều lệ Cựu chiến binh Việt Nam và được gửi đến Hội Cựu chiến binh tại địa phương cư trú.

Đơn xin gia nhập Hội Cựu chiến binh có chức năng ghi chép thông tin cá nhân và mong muốn của người muốn gia nhập Hội. Đồng thời, đơn này cũng là cơ sở để chủ tịch Hội Cựu chiến binh tại địa phương xem xét việc kết nạp hội viên.

Tuy nhiên, trong Pháp lệnh Hội Cựu chiến binh, các văn bản hướng dẫn thi hành và Điều lệ của Hội không ban hành một biểu mẫu chung cũng như hướng dẫn về nội dung cần có trong đơn. Do đó, nhiều người vẫn gặp khó khăn và không biết cách viết đơn này. Dưới đây, Luật Minh Khuê cung cấp một Mẫu đơn xin gia nhập Hội Cựu chiến binh đơn giản, đầy đủ và phổ biến để bạn tham khảo và sử dụng khi cần thiết.

>> Tải ngay: Mẫu đơn xin gia nhập Hội cựu chiến binh

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo những bài viết dưới đây của Luật Minh Khuê: Hội cựu chiến binh Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ và vai trò gì?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Cần giấy tờ gì để được kết nạp hội cựu chiến binh? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.