1. Cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc

Thông tin, tài liệu được hiểu là tổng hợp các nguồn dữ liệu chứa đựng dưới nhiều dạng khác nhau như lời nói, văn bản, dữ liệu điện tử... Bên cung ứng dịch vụ trên cơ sở các dữ liệu được cung cấp từ bên sử dụng dịch vụ sẽ đưa ra phương án thực hiện công việc và kết quả dự kiến.

Quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện thực hiện công việc của bên sử dụng dịch vụ thường được xem xét trên các nội dung cơ bản sau:

- Theo nhu cầu của công việc, nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện thực hiện công việc có thể mang tính chất đương nhiên hoặc trên cơ sở thỏa thuận. Nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện thực hiện công việc mang tính chất đương nhiên nếu các thông tin này quyết định trực tiếp tới xác định phạm vi dịch vụ, phương án thực hiện công việc và kết quả công việc đạt được theo dự kiến. Trường hợp các thông tin, tài liệu, phương tiện thực hiện công việc chỉ mang tính chất hỗ trợ để quá trình thực hiện dịch vụ được thuận lợi hơn thì nghĩa vụ cung cấp được xác định trên cơ sở thỏa thuận.

- Phạm vi thông tin, tài liệu, phương tiện thực hiện công việc bên sử dụng dịch vụ cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ: Bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ các dữ liệu được chứa đựng dưới nhiều hình thức khác nhau, phương tiện trực tiếp hỗ trợ thực hiện được dịch vụ mà không có các dữ liệu, phương tiện này thì bên cung ứng dịch vụ không có khả năng hoặc không thuận lợi trong quá trình thực hiện công việc nhằm đạt kết quả như dự liệu trong hợp đồng dịch vụ.

2. Nghĩa vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ

Bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ trên cơ sở nội dung của thỏa thuận. Bên sử dụng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ theo các nội dung sau:

- Trả tiền đúng thời gian: Việc trả tiền dịch vụ có thể thực hiện một lần hoặc theo từng đợt thanh toán theo sự thỏa thuận của bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Do đó, tương ứng với sự thỏa thuận của các bên, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ trả một lần hoặc từng phần theo đúng thời hạn các bên thỏa thuận. Thời hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ có thể là mốc thời gian cụ thể hoặc theo sự kiện pháp lý.

- Trả tiền đúng địa điểm: Bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ thỏa thuận địa điểm thanh toán tiền dịch vụ. Thông thường, các bên chỉ thỏa thuận địa điểm thanh toán nếu việc thanh toán diễn ra bằng tiền mặt. Tuy nhiên, nếu các bên trong họp đồng dịch vụ lựa chọn phương thức thanh toán đặc thù như các dịch vụ của ngân hàng thì các bên chỉ có quyền lựa chọn địa điểm thanh toán phù họp với phương thức đó.

- Trả tiền đúng phương thức: Phương thức thanh toán tiền dịch vụ đa dạng được xác định trên cơ sở điều kiện của các bên cũng như giá trị sổ tiền dịch vụ phải thanh toán. Bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ có thể lựa chọn theo các phương pháp như ủy nhiệm chi, chuyển khoản, tiền mặt...

>> Xem thêm:  Nguồn nguy hiểm cao độ là gì ? Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ được hiểu như thế nào ?

Nghĩa vụ trả tiền dịch vụ của bên sử dụng dịch vụ đối với bên cung ứng dịch vụ cần tuân thủ các yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung cũng như quy định riêng biệt về trả tiền dịch vụ trong Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015 và các quy định khác của luật riêng.

3. Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm

Bên sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc đảm bảo các tiêu chí: đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác giữa hai bên. Nội dung quyền này bao gồm các vấn đề pháp lý sau:

Một là, yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện đúng chất lượng: Đúng chất lượng tức là đảm bảo đúng quy trình thực hiện, người thực hiện công việc đáp ứng điều kiện năng lực và đem lại kết quả sát với kết quả được dự liệu trong hợp đồng dịch vụ. Mỗi một công việc sẽ tuân thủ theo các quy trình khác nhau. Thậm chí, nhiều công việc đòi hỏi là sự kết họp của nhiều quy trình theo một trật tự nhất định thì buộc bên cung ứng dịch vụ phải tuân thủ.

Hai là, yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện đúng số lượng: Đúng số lượng là phạm vi của công việc và tập hợp các hành vi mà bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện cho bên sử dụng dịch vụ nhằm đem lại kết quả như các bên thỏa thuận. Do đó, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện đầy đủ các khâu, các công đoạn mà các bên đã thỏa thuận hoặc quy trình được công bố hoặc theo tiêu chuẩn chung của công việc được các nhà cung ứng dịch vụ cùng loại thừa nhận và quy định.

Ba là, yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện đúng thời hạn: Đúng thời hạn tức là đúng khoảng thời gian với điểm bắt đầu, điểm kết thúc theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy trình chung được công bố công khai hoặc theo tiêu chuẩn chung mà các nhà cung ứng dịch vụ thống nhất với nhau. Thời hạn thực hiện công việc được xác định trên cơ sở thỏa thuận của các bên chủ thể hoặc theo khoảng thời gian đã được bên cung ứng dịch vụ xây dựng trong thông tin áp dụng cho các khách hàng.

Bốn là, yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện đúng địa điểm: Đúng địa điểm tức là nơi các bên thỏa thuận sẽ thực hiện công việc hoặc sẽ chuyển giao kết quả công việc tùy thuộc vào nội dung đã thống nhất hoặc theo tập quán cung cấp dịch vụ hoặc theo tính chất công việc đó. Thực hiện đúng công việc trong hợp đồng dịch vụ phải tuân thủ thực hiện đúng hợp đông dân sự nói chung. Thông thường, địa điêm thực hiện công việc do các bên thỏa thuận trên cơ sở tính chất của từng loại công việc. Các địa điểm thực hiện công việc phổ biển gồm:

- Bênn cung ứng dịch vụ thực hiện tại trụ sở của mình;

- Bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc tại địa điểm do bên thuê dịch vụ yêu cầu như nơi cư trú của khách hàng hoặc địa điếm khác do các bên thỏa thuận;

- Địa điểm thực hiện công việc là tập hợp các địa điểm trên một lộ trình nhất định như dịch vụ vận chuyển đường hàng không, đường bộ hay đường biển... Địa điểm thực hiện công việc là tập hợp các địa điểm buộc bên cung ứng dịch vụ phải đi qua để đưa đối tượng cần được vận chuyển từ địa điểm này đến địa điểm kia.

>> Xem thêm:  Thừa tự là gì ? Quy định pháp luật về thừa tự

Năm là, yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện theo các nội dung khác đã thống nhất trong hợp đồng dịch vụ: Trường hợp các bên chủ thể thỏa thuận các nội dung khác trong họp đồng dịch vụ liên quan đến thực hiện công việc thì bên sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện.

Như vậy, bên sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm và các thỏa thuận giữa hai bên chủ thể. Trường hợp các bên cung ứng dịch vụ không thực hiện đúng sẽ bị coi là hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng.

4. Quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Quy định về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên sử dụng dịch vụ được quy định tại Điều 516 Bộ luật dân sự 2015:

Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Điều kiện để bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện họp đồng: Pháp luật cho phép bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu bên cung ứng dịch vụ có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình.

Hành vi vi phạm nghiêm trọng của bên cung ứng dịch vụ phải bao gồm các dấu hiệu:

- Thứ nhất, bên cung ứng dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình cam kết trong hợp đồng dịch vụ hoặc trong cam kết nói chung dành cho mọi khách hàng;

- Thứ hai, việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng cho bên sử dụng dịch vụ. Hậu quả nghiêm trọng là các thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần hoặc cả hai mà bên sử dụng dịch vụ phải gánh chịu. Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng cũng cần hiểu là bằng khả năng của mình, các bên khó khăn trong việc khắc phục ngay những thiệt hại này.

5. Hậu quả pháp lý khi bên sử dụng dịch vụ đơn phương chấm dứt hợp đồng

- Hậu quả thứ nhất là chấm dứt hợp đồng dịch vụ:

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thử việc song ngữ (Việt - Anh) và Mẫu thông báo kết quả thử việc

Trong quy định riêng về hợp đồng dịch vụ, nhà làm luật không quy định cụ thể về hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ. Do đó, xác định hậu quả pháp lý cần phải dựa vào quy định chung về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015, đơn phương chấm dứt hơp đồng"thì hợp đồng chẩm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán".

Như vậy, để thực hiện việc đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ, bến sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thông báo tới bên cung ứng dịch vụ về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của mình. Hợp đồng dịch vụ chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm bên cung ứng dịch vụ nhận được thông báo của bên sử dụng dịch vụ. Tùy vào phương thức thực hiện việc thông báo mà các bên thỏa thuận hoặc bên sử dụng dịch vụ lựa chọn để xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng dịch vụ. Khi họp đồng dịch vụ chấm dứt, các bên không còn nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật vẫn buộc các bên thực hiện các nghĩa vụ tương ứng với phần nội dung hợp đồng dịch vụ đã thực hiện như bên cung ứng phải chuyển giao các kết quả cho bên sử dụng dịch vụ còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán tiền dịch vụ cho phần công việc đã hoàn thành.

- Hậu quả thứ hai là làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên cung ứng dịch vụ với bên sử dụng dịch vụ:

Tại Điều 516 Bộ luật năm 2015, pháp luật cho phép bên sử dụng dịch vụ được yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ có hành vi vi phạm nghiêm trọng.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự nói chung của các chủ thể phát sinh khi hội tụ đủ bốn điều kiện: có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mổi quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại thực tế và có lỗi.

Đối với bên cung ứng dịch vụ, quy định pháp luật đặt ra yêu cầu là có "hành vi vi phạm nghiêm trọng”.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bao nhiêu tuổi thì phải đi nghĩa vụ quân sự ?

>> Xem thêm:  Người gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn thì sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thế nào là hợp đồng dịch vụ?

Trả lời:

Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

Câu hỏi: Hợp đồng dịch vụ có đối tượng là gì?

Trả lời:

Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Câu hỏi: Bên cung ứng dịch vụ có được tiết lộ thông tin của bên sử dụng dịch vụ không?

Trả lời:

Điều 517 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ như sau:

Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.