- 1. Quy định về quyền thừa kế tài sản
- 1.1 Thừa kế theo di chúc
- 1.2 Thừa kế theo pháp luật
- 1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thừa kế
- 2. Trường hợp nào con không được hưởng thừa kế nhà đất từ cha mẹ
- 2.1 Con bị tước quyền thừa kế
- 2.2 Con từ chối quyền thừa kế
- 2.3 Con bị tuyên bố mất tích hoặc đã chết
- 2.4 Các trường hợp được biệt
1. Quy định về quyền thừa kế tài sản
Thừa kế là hành vi pháp lý chuyển nhượng tài sả từ người chết sang người còn sống theo quy định của pháp luật. Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế tài sản của người chết đối với các thành viên trong gia đình, cũng như quyền của người thừa kế đối với tài sản mà họ được hưởng. Căn cứ điều 609 BLDS 2015 quy định về Quyền thừa kế:
"Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo quy định; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc"
Như vậy, Quyền thừa kế tài sản có thể phát sinh từ hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
1.1 Thừa kế theo di chúc
Căn cứ Điều 624 BLDS quy định về di chúc: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết."
Thừa kế theo di chúc là việc chuyển nhượng tài sản của người chế cho người còn sống theo ý chị và nguyện vọng của người để lại di chúc. Di chúc có thể được lập thành văn bản hoặc lời nói, nhưng phải tuân thủ các quy định pháp luật về hình thức và nội dung để đảm bảo hiệu lực.
Hình thức của di chúc: Theo Bộ Luật dân sự 2015, di chúc có thể được lập dưới ba hình thức chính:
- Di chúc bằng văn bản: Di chúc phải được lập bằng văn bản có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc chứng kiến của người khác. Di chúc này phải được ký hoặc điểm chỉ bởi người lập di chúc.
- Di chúc bằng miệng: Di chúc miệng chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc trong tình trạng sức khoẻ nguy kịch, không thể lập di chúc bằng văn bản và có sự chứng kiến của ít nhất hai người.
- Di chúc không có chứng nhận công chứng hoặc chứng thực: Mặc dù không có công chứng, chứng thực nhưng nếu di chúc đáp ứng đầy đủ các điều kiện và không có bất kỳ tranh chấp nào, vẫn có thể có hiệu lực pháp lý.
Căn cứ Điều 630 BLDS 2015 quy định về di chúc hợp pháp
"1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định pháp luật...."
Quyền lợi của người thừa kế theo di chúc: Người thừa kế theo di chúc sẽ nhận tài sản theo di chúc như đã định. Tuy nhiên, nếu di chúc có những điều kiện hoặc quy định không hợp lý (vi phạm đạo đức xã hội, lợi ích của các thành viên trong gia đình...), người thừa kế có thể yêu cầu toà án xem xét.
Di chúc không hợp pháp: Di chúc có thể bị vô hiệu nếu không đáp ứng đủ các yêu cầu về hình thức hoặc nếu có sự ép buộc, gian lận, đe doạ khi lập di chúc.
1.2 Thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 649 BLDS 2015 quy định về thừa kế theo pháp luật: "Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định."
Thừa kế theo pháp luật là trường hợp tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Quy trình thừa kế theo pháp luật phải dựa vào các quy định về thứ tự và quyền lợi của các thành viên trong gia đình, đồng thời phải bảo đảm quyền lợi của những người thừa kế hợp pháp.
Theo Điều 650 BLDS 2015 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
"1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan; tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. ...."
1.2.1 Các hàng thừa kế theo pháp luật
Theo Điều 651 BLDS 2015 quy định về người kế theo pháp luật:
- Hàng thừa kế thứ nhất: Gồm những người gần gũi nhất với người đã mất, bao gồm:
- Con cái ( con đẻ, con nuôi hợp pháp )
- Vợ hoặc chồng (vợ/chồng hợp pháp)
- Cha mẹ ( cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi hợp pháp )
- Hàng thừa kế thứ hai: Nếu không có người thừa kế thuộc hàng thứ nhất, tài sản được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ hai, bao gồm:
- Ông bà nội, ông bà ngoại của người đã chết
- Anh chị em ruột ( bao gồm cả anh chị em cùng cha khác mẹ và cùng mẹ khác cha )
- Hàng thừa kế thứ ba: Nếu không có người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai, tài sản sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ ba, bao gồm:
- Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột; chú ruột; cậu ruột; cô ruột; dì ruột của người chết. Cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cô ruột, dì ruột, chắc ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
1.2.2 Phân chia tài sản thừa kế
Theo Điều 651 BLDS 2015 quy định về phân chia tài sản: Tài sản sẽ được chia theo các phần bằng nhau giữa các đồng thừa kế cùng hàng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người thừa kế có thể yêu cầu chia tài sản theo tỷ lệ khác nếu có sự thoả thuận
Ví dụ: Người chết có một vợ, hai con, tài sản sẻ được chia đều giữa ba người này ( mỗi người nhận một phần ba di sản). Tuy nhiên, nếu có sự thoả thuận khác hoặc có người yêu cầu, việc chia tài sản có thể thay đổi.
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thừa kế
Có một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyền thừa kế tài sản, bao gồm:
Con cái bị tước quyền thừa kế: Theo Điều 621 BLDS 2015, nếu con cái có một số hành vi gây tổn hại đến quyền lợi của cha mẹ (ví dụ: hành vi bạo lực, đe doạ, lạm dụng,...), người con có thể bị tước quyền thừa kế tài sản của cha mẹ
Người không có năng lực pháp lý: Nếu người thừa kế bị tuyên bố mất năng lực hành vi hoặc bị mất tích, quyền thừa kế của họ có thể bị thay đổi.
2. Trường hợp nào con không được hưởng thừa kế nhà đất từ cha mẹ
Theo quy định của pháp luật, con cái thường là những người thừa kế tái sản của cha mẹ, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, con cái có thể không được hưởng tài sản nhà đất từ cha mẹ.
2.1 Con bị tước quyền thừa kế
Một trong những trường hợp mà con không được hưởng thừa kế tài sản nhà đất từ cha mẹ là khi con bị tước quyền thừa kế. Theo Điều 621 BLDS 2015, nếu con cái có hành vi xâm phạm đến quyền và lợ ích hợp pháp của cha mẹ, như hành vi bạo lực, lừa dối, làm tổn hại đến tài sản của cha mẹ thì cha mẹ có quyền tước quyền thừa kế của con. Điều này có thể áp dụng trong những trường hợp sau.
- Con có hành vi bạo hành, lạm dụng cha mẹ
- Con có hành vi gian lận hoặc lừa đảo tài sản của cha mẹ
- Con có hành vi phạm tội nghiệm trong gây thiệt hại đến tài sản của cha mẹ.
2.2 Con từ chối quyền thừa kế
Một trường hợp khác là con từ chối quyền thừa kế. Theo Điều 620 BLDS 2015 người thừa kế có quyền từ chối nhận tài sản thừa kế. Quyết định từ chối phải được thực hiện bằng văn bản và không thể thay đổi trong thời gian sau đó.
Việc từ chối thừa kế có thể xảy ra trong những tình huống như:
- Con không muốn nhận tài sản vì các mối quan hệ trong gia đình, ví dụ, có thể có tranh chấp về tài sản giữa các thành viên trong gia đình.
- Con muốn trốn tránh nghĩa vụ tài chính liên quan đến tài sản thừa kế (ví dụ, nợ nần, tranh chấp,...)
- Con không muốn chịu trách nhiệm đối với tài sản mà cha mẹ để lại ( chẳng hạn tài sản có thể gây khó khăn về quản lý hoặc có nhiều tranh chấp).
2.3 Con bị tuyên bố mất tích hoặc đã chết
Nếu con bị tuyên bố mất tích hoặc đã qua đời trước khi người cha mẹ chết, con sẽ không có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ. Trong trường hợp này, người thừa kế tài sản sẽ được chuyển cho các thành viên trong gia đình khác, theo thứ tự quy định trong pháp luật.
2.4 Các trường hợp được biệt
Khi di chúc có quy định từ chối quyền thừa kế: Nếu trong di chúc của cha mẹ có quy định rõ ràng từ chối quyền thừa kế của một hoặc một số người con, thì người con đó sẽ không được hưởng tài sản từ cha mẹ.
Khi tranh chấp về tài sản: Trong một sốt trường hợp, nếu có tranh chấp về tài sản hoặc các thành viên trong gia đình không đồng thuận về việc phân chia di sản, có thể dẫn đến việc con cái không nhận được tài sản theo ý muốn của cha mẹ