Việc chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật phụ thuộc vào giá trị di sản còn lại, người có quyền hưởng thừa kế và nội dung di chúc. Mỗi trường hợp có cách xác định phần di sản khác nhau. Để tính đúng phần mỗi người được nhận, cần xác định di sản sau khi thanh toán các nghĩa vụ tài sản, sau đó áp dụng công thức chia thừa kế tương ứng.
Bài viết dưới đây Luật Minh Khuê sẽ hướng dẫn bạn công thức tính, căn cứ pháp lý và ví dụ minh họa, bao gồm cả trường hợp người thừa kế được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
1. Cách xác định di sản trước khi chia thừa kế?
Trước khi chia thừa kế, cần xác định tài sản thuộc người chết, các nghĩa vụ tài sản phải thanh toán và giá trị di sản còn lại. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Việc xác định di sản được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Xác định tài sản thuộc người chết. Nếu tài sản là tài sản chung vợ chồng hoặc tài sản chung với người khác, chỉ phần tài sản thuộc người chết mới được tính vào di sản. Phần tài sản thuộc người còn sống hoặc đồng sở hữu không được chia thừa kế của người chết.
Bước 2: Xác định nghĩa vụ tài sản và chi phí phải thanh toán. Theo Điều 615 và Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015, cần xác định các nghĩa vụ tài sản của người chết và thanh toán theo thứ tự ưu tiên luật định, như chi phí mai táng hợp lý, tiền cấp dưỡng còn thiếu, các khoản nợ, thuế và tiền bồi thường thiệt hại.
Bước 3: Tính giá trị di sản còn lại để chia. Lấy tổng giá trị di sản thuộc người chết trừ đi các nghĩa vụ tài sản và chi phí phải thanh toán từ di sản.
Công thức tính: Di sản còn lại = Tổng giá trị di sản - Nghĩa vụ tài sản và chi phí phải thanh toán từ di sản.
Ví dụ: Ông A có khối tài sản riêng trị giá 5 tỷ đồng. Các nghĩa vụ tài sản và chi phí phải thanh toán từ di sản là 500 triệu đồng. Nếu không có khoản điều chỉnh nào khác, di sản còn lại để chia là 4,5 tỷ đồng.
2. Công thức chia thừa kế theo pháp luật
Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật là việc thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định. Phương thức này được áp dụng trong các trường hợp quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, như người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc một phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế theo pháp luật được xác định theo ba hàng:
- Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thừa kế thứ hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại hoặc bà ngoại.
- Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì; chắt ruột mà người chết là cụ nội hoặc cụ ngoại.
Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản theo khoản 3 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Công thức tính một suất thừa kế: Một suất thừa kế = Giá trị di sản còn lại để chia : Số suất thừa kế hợp pháp
Để áp dụng công thức, cần xác định đúng những người có quyền hưởng di sản và số suất thừa kế tương ứng. Trường hợp có người thừa kế thế vị, việc xác định phần hưởng phải tuân theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015. Ngoài ra, quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha mẹ nuôi, con riêng và bố dượng, mẹ kế được xem xét theo các Điều 653 và 654 của Bộ luật này.
Ví dụ: Ông A chết không để lại di chúc. Di sản sau khi thanh toán các nghĩa vụ tài sản còn 9 tỷ đồng. Ông A có vợ và hai người con; cha mẹ ông A đều đã chết. Nếu cả ba người đều có quyền hưởng di sản và không có tình tiết đặc biệt, mỗi người được hưởng: 9 tỷ đồng : 3 = 3 tỷ đồng/người.
Như vậy, phần thừa kế theo pháp luật được xác định dựa trên giá trị di sản còn lại, hàng thừa kế được hưởng và số suất thừa kế tương ứng. Nếu chỉ một phần di sản phải chia theo pháp luật, công thức chỉ áp dụng đối với phần di sản đó.
Đây là phương pháp tính tổng quát nhất. Ngoài ra, cũng cần xem xét phương pháp chia tài sản, có thể là bằng tiền mặt hoặc bằng các tài sản khác như quyền sử dụng đất. Do đó, có thể có người nhận được một lượng lớn hơn, người nhận ít hơn, hoặc có người nhận tiền mặt và người nhận quyền sử dụng đất, tùy thuộc vào các tình huống cụ thể.
3. Công thức chia thừa kế theo di chúc
Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người và giao nghĩa vụ cho người thừa kế. Vì vậy, di sản được chia theo nội dung di chúc hợp pháp, nhưng phải bảo đảm quyền hưởng di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
Cách tính phần di sản mỗi người được hưởng phụ thuộc vào nội dung di chúc:
- Di chúc xác định tỷ lệ hưởng: Lấy giá trị di sản được phân chia theo di chúc nhân với tỷ lệ được hưởng của từng người.
- Di chúc xác định số tiền hoặc giá trị cụ thể: Người thừa kế nhận phần di sản theo nội dung di chúc, trong phạm vi di sản và theo quy định pháp luật.
- Di chúc không xác định rõ phần của từng người: Nếu di chúc chỉ định người thừa kế nhưng không xác định phần di sản mỗi người được hưởng, di sản được chia đều cho những người được chỉ định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Di chúc phân chia theo hiện vật: Việc phân chia được thực hiện theo Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015; nếu hiện vật bị hư hỏng hoặc tiêu hủy thì người thừa kế có thể được nhận hiện vật kèm theo lợi ích hoặc phải chịu phần giảm giá trị theo quy định.
Công thức tính phần di sản theo tỷ lệ trong di chúc: Phần di sản được hưởng = Giá trị di sản phân chia theo di chúc x Tỷ lệ được hưởng
Ngoài ra, cần xác định những người không được chỉ định trong di chúc nhưng vẫn có quyền hưởng di sản theo pháp luật. Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ được cho hưởng ít hơn mức này. Quy định này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc người không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015.
Để xác định phần di sản mỗi người thực tế được nhận, cần làm rõ:
- Ai được chỉ định hưởng di sản và tỷ lệ hoặc giá trị được hưởng theo di chúc?
- Ai thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644?
- Có phần di sản nào không được định đoạt hoặc phần di chúc nào không có hiệu lực cần chia theo pháp luật không?
- Người được chỉ định hưởng di sản có chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc không? Nếu có, cần xác định người được hưởng phần di sản liên quan theo quy định về thừa kế theo pháp luật và thừa kế thế vị, nếu đủ điều kiện.
Ví dụ: Ông A để lại di sản trị giá 6 tỷ đồng và lập di chúc hợp pháp, chỉ định con trai B hưởng 60%, con gái C hưởng 40%. Nếu toàn bộ di sản được phân chia theo di chúc và không có nghĩa vụ tài sản hoặc quyền hưởng bắt buộc nào cần xem xét thêm, phần mỗi người được nhận là:
- B: 6 tỷ đồng x 60% = 3,6 tỷ đồng.
- C: 6 tỷ đồng x 40% = 2,4 tỷ đồng.
Trường hợp một phần di chúc không có hiệu lực hoặc người được chỉ định hưởng di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, cần xác định phần di sản liên quan có phải chia theo pháp luật hay không theo Điều 643 và Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.
4. Cách tính 2/3 suất thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc?
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, một số người vẫn được hưởng di sản dù không được người lập di chúc cho hưởng hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn mức luật định. Phần di sản họ được hưởng bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu không thuộc trường hợp ngoại lệ tại khoản 2 Điều này.
Những người được hưởng phần di sản này gồm:
- Con chưa thành niên;
- Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người chết;
- Con thành niên không có khả năng lao động.
Quy định này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc người không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015.
Công thức tính:
Phần di sản tối thiểu = 2/3 x Một suất thừa kế theo pháp luật
Để tính chính xác, cần xác định phần di sản còn lại sau khi thanh toán các nghĩa vụ tài sản, giả định chia theo pháp luật để xác định một suất thừa kế, sau đó tính 2/3 suất này. Nếu người thuộc diện được bảo vệ đã được hưởng một phần di sản theo di chúc nhưng thấp hơn mức luật định, cần xác định phần còn thiếu để bảo đảm quyền lợi theo Điều 644.
Ví dụ: Bà A có di sản riêng trị giá 600 triệu đồng, chồng là ông B và con trai là C. Cha mẹ bà A đều đã qua đời. Bà A lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho C, không cho ông B hưởng.
Nếu chia theo pháp luật, ông B và C mỗi người được hưởng 300 triệu đồng. Ông B thuộc diện thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc nên phần di sản tối thiểu ông được hưởng là:
300 triệu đồng x 2/3 = 200 triệu đồng.
Như vậy, nếu không có tình tiết pháp lý khác làm thay đổi kết quả, ông B được hưởng 200 triệu đồng và C nhận 400 triệu đồng còn lại.
Lưu ý: Khi xác định suất thừa kế theo pháp luật, không lấy tổng số người thuộc cả ba hàng thừa kế làm mẫu số. Cần xác định hàng thừa kế được hưởng theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 và các trường hợp đặc biệt có liên quan.
5. Ví dụ áp dụng công thức chia thừa kế theo di chúc, theo pháp luật
1. Tính di sản thừa kế thực tế sau khi trừ nghĩa vụ tài sản
Để xác định di sản được chia, trước hết cần xác định tài sản thuộc người chết, sau đó trừ các nghĩa vụ tài sản và chi phí phải thanh toán từ di sản theo quy định pháp luật.
Công thức: Di sản còn lại để chia = Giá trị di sản thuộc người chết - Nghĩa vụ tài sản và chi phí phải thanh toán từ di sản.
Ví dụ: Ông A và bà B có tài sản chung trị giá 4 tỷ đồng. Giả sử phần tài sản thuộc ông A là 2 tỷ đồng. Ông A còn có tài sản riêng trị giá 1 tỷ đồng. Nghĩa vụ tài sản phải thanh toán từ di sản là 500 triệu đồng.
Di sản còn lại để chia được tính như sau: (2 tỷ đồng + 1 tỷ đồng) - 500 triệu đồng = 2,5 tỷ đồng.
Như vậy, di sản của ông A là 2,5 tỷ đồng sau khi thanh toán nghĩa vụ tài sản. Đây là căn cứ để tiếp tục chia theo di chúc hoặc theo pháp luật.
2. Chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật
Cách tính phần thừa kế phụ thuộc vào việc di sản được chia theo di chúc hay theo pháp luật.
Trường hợp chia theo di chúc: Nếu di chúc xác định tỷ lệ hưởng của từng người, phần di sản được tính theo công thức:
Phần hưởng theo di chúc = Giá trị di sản được phân chia theo di chúc x Tỷ lệ hưởng.
Ví dụ: Ông A để lại di sản trị giá 6 tỷ đồng và lập di chúc hợp pháp, chỉ định B hưởng 60%, C hưởng 40%. Giả sử toàn bộ di sản được chia theo di chúc và không có quyền hưởng bắt buộc nào cần xem xét thêm:
- B nhận: 6 tỷ đồng x 60% = 3,6 tỷ đồng.
- C nhận: 6 tỷ đồng x 40% = 2,4 tỷ đồng.
Trường hợp chia theo pháp luật: Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau.
Một suất thừa kế = Giá trị di sản được chia theo pháp luật : Số suất thừa kế theo pháp luật.
Ví dụ: Ông A chết không để lại di chúc. Di sản còn lại là 9 tỷ đồng. Ông A có vợ và hai người con; cha mẹ ông A đều đã chết. Nếu cả ba người đều có quyền hưởng di sản và không có tình tiết đặc biệt, mỗi người nhận:
9 tỷ đồng : 3 = 3 tỷ đồng.
Trường hợp di chúc không định đoạt hết di sản hoặc một phần di chúc không có hiệu lực, cần xác định phần di sản tương ứng để chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.
3. Tính 2/3 suất thừa kế và phần di sản cần trích bù
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động có thể được hưởng phần di sản không phụ thuộc nội dung di chúc nếu đáp ứng điều kiện luật định.
Công thức tính mức hưởng tối thiểu: Mức hưởng tối thiểu = 2/3 x Một suất thừa kế theo pháp luật.
Nếu người thuộc diện được bảo vệ đã nhận một phần di sản nhưng thấp hơn mức tối thiểu, phần còn thiếu được xác định như sau:
Phần còn thiếu = Mức hưởng tối thiểu - Phần di sản đã được hưởng, nếu kết quả lớn hơn 0.
Ví dụ: Bà A có di sản riêng trị giá 600 triệu đồng, chồng là ông B và con trai là C. Cha mẹ bà A đều đã qua đời. Bà A lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho C.
Nếu chia theo pháp luật, ông B và C mỗi người được hưởng 300 triệu đồng. Mức hưởng tối thiểu của ông B được tính như sau:
300 triệu đồng x 2/3 = 200 triệu đồng.
Do ông B không được hưởng di sản theo di chúc, cần bảo đảm phần di sản tối thiểu 200 triệu đồng cho ông. Nếu không có tình tiết pháp lý khác làm thay đổi kết quả, ông B nhận 200 triệu đồng và C nhận 400 triệu đồng còn lại.
Trường hợp có nhiều người thuộc diện Điều 644, cần tính mức hưởng tối thiểu của từng người, đối chiếu với phần đã nhận và xác định phần cần trích bù theo quy định áp dụng. Không nên mặc định một công thức phân bổ duy nhất cho mọi trường hợp.
4. Chia thừa kế thế vị khi người thừa kế chết trước người để lại di sản
Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Quy định này cũng áp dụng tương ứng đối với chắt trong trường hợp luật định.
Ví dụ: Ông A chết không để lại di chúc, di sản còn lại là 600 triệu đồng. Ông A có hai người con là B và C. B chết trước ông A và có một người con là D. Giả sử D đủ điều kiện hưởng thừa kế thế vị và không có tình tiết đặc biệt.
Di sản được chia theo hai nhánh:
- Nhánh của B: 600 triệu đồng : 2 = 300 triệu đồng. D hưởng 300 triệu đồng theo thừa kế thế vị.
- Nhánh của C: 300 triệu đồng.
Như vậy, D nhận 300 triệu đồng và C nhận 300 triệu đồng.
Nếu người chết để lại di chúc chỉ định phần di sản cho người đã chết trước hoặc cùng thời điểm với mình, cần xác định hiệu lực của phần di chúc đó và phần di sản phải chia theo pháp luật. Không mặc định người thân của người được chỉ định trong di chúc đương nhiên được hưởng thế vị; phải kiểm tra điều kiện áp dụng Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015.
5. Chia phần di sản khi người được chỉ định trong di chúc từ chối nhận hoặc không có quyền hưởng di sản
Ông A có di sản 900 triệu đồng và lập di chúc hợp pháp để lại toàn bộ tài sản cho người con B. Tuy nhiên, B từ chối nhận di sản theo đúng quy định pháp luật. Ông A còn vợ là C và người con D; cha mẹ ông A đều đã qua đời.
Theo điểm d khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, phần di sản liên quan đến người từ chối nhận di sản được chia theo pháp luật.
Nếu C và D là những người duy nhất có quyền hưởng phần di sản này, mỗi người nhận:
900 triệu đồng : 2 = 450 triệu đồng/người.
Cần lưu ý, nếu người được chỉ định không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, phần di sản liên quan cũng được xử lý theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
6. Chia phần di sản khi một phần di chúc không có hiệu lực
Ông A có di sản trị giá 1,2 tỷ đồng. Di chúc hợp pháp chỉ định B hưởng 600 triệu đồng, C hưởng 400 triệu đồng và không định đoạt 200 triệu đồng còn lại. Sau khi ông A chết, xác định phần di chúc định đoạt cho C không có hiệu lực. Ông A còn vợ là D và người con E; cha mẹ ông A đều đã qua đời. Giả sử không có tình tiết đặc biệt.
Việc phân chia được thực hiện như sau:
- B nhận 600 triệu đồng theo di chúc.
- Phần 400 triệu đồng liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực và 200 triệu đồng chưa được định đoạt được chia theo pháp luật.
- D và E là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng phần di sản chia theo pháp luật.
Mỗi người nhận từ phần di sản 600 triệu đồng:
600 triệu đồng : 2 = 300 triệu đồng/người.
Như vậy, B nhận 600 triệu đồng, D nhận 300 triệu đồng và E nhận 300 triệu đồng.
Cách tính này áp dụng khi phần di chúc không có hiệu lực không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại, phù hợp với Điều 643 và Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.
7. Tính phần hưởng tối thiểu khi có nhiều người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc
Ông A có di sản riêng trị giá 900 triệu đồng và lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho người con C đã thành niên, có khả năng lao động. Ông A còn vợ là B và người con D chưa thành niên; cha mẹ ông A đều đã qua đời.
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, B và D thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc nội dung di chúc, nếu không thuộc trường hợp ngoại lệ luật định.
Nếu chia theo pháp luật, B, C và D mỗi người được hưởng:
900 triệu đồng : 3 = 300 triệu đồng.
Mức hưởng tối thiểu của B và D được tính như sau:
300 triệu đồng x 2/3 = 200 triệu đồng/người.
Tổng phần di sản tối thiểu cần bảo đảm cho B và D là:
200 triệu đồng x 2 = 400 triệu đồng.
Do đó, nếu không có tình tiết pháp lý khác làm thay đổi kết quả, B và D mỗi người nhận 200 triệu đồng, còn C nhận 500 triệu đồng.
Ví dụ này minh họa cách tính mức hưởng tối thiểu khi có nhiều người thuộc diện Điều 644. Khi giải quyết vụ việc thực tế, cần xác định đầy đủ người có quyền hưởng di sản, phần đã được nhận và các trường hợp loại trừ trước khi xác định phần di sản cần trích bù.
Bài viết liên quan:
- Thủ tục lập di chúc hợp pháp và chia di sản thừa kế theo di chúc?
- Chia di sản thừa kế như thế nào? Cách xác định người hưởng thừa kế?
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7, gọi số 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!