1. Thế nào là văn bản trái luật?

Văn bản hành chính được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội và nó có mức độ đa dạng rất lớn. Nó được dùng để truyền đạt thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới trong các cơ quan, tổ chức hoặc văn bản đề đạt ý kiến, nguyện vọng của các cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết một vụ việc nhất định. Văn bản hành chính là những văn bản mang tính quy phạm hành chính, có nhiều vai trò khác nhau, trong việc thông báo, truyền đạt thông tin từ tổ chức, cá nhân, cơ quan này đến một hay nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Văn bản hành chính là loại văn bản mang tính thông tin quy phạm Nhà nước, cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý. Văn bản hành chính còn được dùng vào mục đích cụ thể hóa những văn bản pháp quy (pháp luật quy định), giải quyết các vấn đề, công việc trong quá trình điều hành, quản lý một cơ quan, tổ chức.

Thể thức cũng như kỹ thuật trình bày một văn bản hành chính được quy định khá chi tiết trong Nghị định 30/2020/NĐ-CP, trong đó có quy định về các loại văn bản hành chính như: quyết định (cá biệt), nghị quyết (cá biệt), hợp đồng, công văn… thể thức trình bày cũng được quy định khá chi tiết trong đó quy định rõ những thành phần bắt buộc phải có của một văn bản hành chính như: quốc hiệu, tiêu ngữ, tên cơ quan ban hành, loại văn bản… Kỹ thuật trình bày, soạn thảo, ký ban hành văn bản hành chính cũng được quy định khá rõ nghị định này. Như vậy, ta có thể thấy pháp luật quy định rất chi tiết về những vấn đề xoay quanh việc ban hành văn bản hành chính.

Văn bản hành chính trái pháp luật bao gồm văn bản được ban hành không đúng thẩm quyền, văn bản có nội dung, hình thức trái với hiến pháp, các quy định của pháp luật khác liên quan, văn bản sai sót về kỹ thuật, trình bày, soạn thảo, thể thức văn bản, căn cứ, trình tự, thủ tục ban hành. Vì tồn tại nhiều khiếm khuyết trong một số văn bản nên nhiều cơ quan, cá nhân cần xử lý văn bản hành chính trái pháp luật này.

2. Trường hợp VBQPPL nào được xem là văn bản trái pháp luật?

Nghị định 154/2020/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó bổ sung thêm trường hợp VBQPPL được xác định là văn bản trái pháp luật.

Cụ thể, theo điểm b khoản 17 Điều 1 Nghị định 154/2020/NĐ-CP, văn bản trái pháp luật gồm:

- Văn bản ban hành không đúng thẩm quyền;

- Văn bản có nội dung trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn;

- Văn bản quy định thời điểm có hiệu lực trái với quy định tại khoản 1 Điều 151 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (Nội dung mới bổ sung)

- Văn bản vi phạm quy định của pháp luật về đánh giá tác động của chính sách, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra dự thảo;

- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành trong trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo trình tự, thủ tục rút gọn nhưng không thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 147 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015.

3. Trách nhiệm của người ra văn bản trái luật

Hiện nay rất nhiều công văn mang tính nội bộ ngành dọc của các bộ ngành, chính quyền địa phương được ban hành, một số văn bản quy phạm pháp luật khi soạn thảo và ban hành do các nguyên nhân khách quan như thời gian gấp gáp, nguyên nhân chủ quan là trình độ chuyên môn của người tham mưu, soạn thảo yếu kém dẫn đến một số văn bản quy phạm pháp luật của các bộ ngành, địa phương thiếu chặt chẽ, thậm chí ban hành trái pháp luật dẫn đến hậu quả sau đó là phải thu hồi một cách chớp nhoáng, việc thu hồi và hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể kể đến: Sự tham mưu yếu kém bất hợp lý của cá nhân - tổ chức cơ quan cấp dưới; Sự nóng vội - chủ quan trong việc duyệt văn bản của thủ trưởng cơ quan; Nội dung không phù hợp với đối tượng tiếp nhận do xây dựng và ban hành quá vội vàng; Nội dung ban hành không được kiểm chứng và xác thực, thẩm định theo đúng trình tự.

Việc soạn thỏa và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái quy định pháp luật hiện nay chỉ có thể bị xem xét trách nhiệm nội bộ và yêu cầu thu hồi, hủy bỏ văn bản trái pháp luật. Căn cứ khoản 3, Điều 165, Luật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật sửa đổi 2020 về trách nhiệm của Chính phủ trong “Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật” của Chính phủ thì: “3. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên”.

Cũng tại khoản 1, khoản 2, Điều 166, Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (2020) về trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong “Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật có quy định:

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành và do bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản. 

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có quyền đề nghị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác, UBND cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề nghị UBTV Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách”.

Bên cạnh đó, tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư cũng nêu rõ trách nhiệm của người soạn thảo văn bản (khoản 4, Điều 10); Trách nhiệm của người kiểm tra văn bản trước khi ký ban hành (khoản 1, khoản 2, Điều 12); Trách nhiệm của người ký ban hàng văn bản (khoản 5, Điều 13). Thì việc xử lý trách nhiệm cũng chỉ nêu chung chung; Người tham mưu, người soạn thảo và người ký ban hành cũng chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người đứng đầu, chứ chưa nêu rõ về hình thức, biện pháp xử lý người ra văn bản trái pháp luật. Nhưng chắc chắn rằng, những cá nhân – tổ chức tham mưu; Cá nhân – tổ chức soạn thảo, cá nhân – tổ chức ký ban hành sẽ bị đánh giá về việc không hoàn thành nhiệm xếp loại cán bộ, công chức, viên chức yếu kém chuyên môn. Cao nhất có thể bị xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo Điều 7, Điều 15, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP của Chính phủ.

Hiện nay việc soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định tại Luật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật sửa đổi năm 2020, tại Điều 4 đã quy định chi tiết 15 loại văn bản được xem là văn bản quy phạm pháp luật. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành.

Hiện nay đã có Luật, Nghị định hướng dẫn kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ, nên cán bộ, công chức, viên chức cần lưu ý nắm chắc các quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (2020) về kỹ thuật trình bày, hình thức, nội dung… để tham mưu và soạn thảo nhằm tránh sai sót đang tiếc xảy ra; Thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ký duyệt thông qua văn bản cũng cần nắm rõ các quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (2020) về kỹ thuật trình bày, hình thức, nội dung… để biết được cấp dưới tham mưu, soạn thảo nội dung, hình thức có sai sót gì không trước khi ký quyệt để ban hành.

Trước khi ban hành một văn bản nói chung hay một công văn nói riêng, cần xác minh, thẩm định xác thực nội dung công văn nhằm tránh việc hướng dẫn sai gây hiểu nhầm cho cơ quan cấp dưới và người dân. Cần áp dụng chế tài xử lý kỷ luật đối với những người tham mưu, soạn thảo và ký ban hành những văn bản trái quy định pháp luật dẫn đến phải thu hồi, bởi hệ lụy khiến cả hệ thống cơ quan cấp trên mất uy tín, giảm sút niềm tin của nhân dân, cơ quan cấp dưới thì thực hiện sai, hiểu không đầy đủ, người dân thì hiểu nhầm dẫn đến những hậu quả đáng tiếc diễn ra ngay sau đó. Những văn bản có nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành nếu trái luật sẽ bị Bộ Tư pháp kiến nghị thu hồi, hủy bỏ.

Xem thêm: Hình thức xử lý văn bản trái pháp luật? Thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Trường hợp VBQPPL nào được xem là văn bản trái pháp luật? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!