1. Tư cách pháp nhân là gì? Không có tư cách pháp nhân là gì?

1.1 Tư cách pháp nhân là gì?

Trước tiên cần hiểu pháp nhân là các tổ chức được công nhận có tư cách pháp lý độc lập để tham gia vào các hoạt động pháp lý khác như chính trị, kinh tế và xã hội... Các pháp nhân có thể là pháp nhân Việt Nam hoặc pháp nhân nước ngoài.

Theo đó, để được công nhận tư cách pháp nhân, tổ chức (nhóm người) phải có khả năng tồn tại và hoạt động độc lập, cũng như tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Những dấu hiệu để xác định một tổ chức có tư cách pháp nhân bao gồm sự tồn tại độc lập, có tài sản riêng và độc lập với tài sản của các thành viên của nó, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và thực hiện những hành vi pháp lý nhân danh mình, cũng như có quyền làm nguyên đơn hoặc bị đơn trước toà án, và trách nhiệm độc lập về tài sản.

Có thể thấy, tư cách pháp nhân là tư cách của tổ chức được nhà nước trao cho để thực hiện một số quyền và nghĩa vụ một cách độc lập nhất định và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

 

1.2 Không có tư cách pháp nhân là gì?

Nếu một tổ chức hoặc một nhóm người không có tư cách pháp nhân thì họ không được công nhận là một thực thể pháp lý độc lập và không thể tham gia các hoạt động pháp lý như một pháp nhân. Điều này có thể gây khó khăn trong việc hoạt động kinh doanh, quản lý tài sản, và tổ chức các hoạt động khác. Những tổ chức hoặc nhóm người không có tư cách pháp nhân có thể bị giới hạn về quyền lợi và trách nhiệm pháp lý, và thường phải hoạt động dưới sự điều chỉnh của một tổ chức hoặc nhóm người khác có tư cách pháp nhân.

Tổ chức không có tư cách pháp nhân là những tổ chức không có đủ điều kiện pháp nhân, những điều kiện đó sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau đây.

 

2. Điều kiện được công nhận là pháp nhân

Theo khoản 1 điều 74 của Bộ luật Dân sự 2015, một tổ chức được xem là có tư cách pháp nhân khi thỏa mãn đầy đủ 4 tiêu chí sau:

Tổ chức phải được thành lập theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 1 của điều 82 của Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân có thể được thành lập theo sáng kiến của cá nhân hoặc pháp nhân, hoặc dưới sự quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ, một doanh nghiệp có thể được thành lập dưới sự quyết định của Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh.

Tổ chức phải có cơ cấu tổ chức theo quy định

một pháp nhân cần có cơ cấu tổ chức rõ ràng và phải có cơ quan điều hành. Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành được quy định trong điều lệ hoặc trong quyết định thành lập của pháp nhân. Ngoài tên riêng, pháp nhân cần có điều lệ hoạt động rõ ràng, có cơ cấu tổ chức cụ thể và người đại diện theo pháp luật để thực hiện các giao dịch. Điều lệ của pháp nhân do các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên xây dựng và thống nhất thông qua, hoặc nếu được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì điều lệ do cơ quan đó chuẩn y. Pháp nhân cần có con dấu riêng do người đại diện của tổ chức quản lý và sử dụng.

Tổ chức có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình

Tài sản của pháp nhân được công nhận thuộc quyền sở hữu của pháp nhân, vì vậy pháp nhân có toàn quyền sử dụng và kiểm soát các tài sản này mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ ai. Tài sản của pháp nhân phải hoàn toàn tách biệt với tài sản của các cá nhân là thành viên. Vì vậy, các thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào tổ chức, đây là điểm khác biệt lớn để phân biệt giữa pháp nhân và thể nhân (cá nhân).

Để minh họa rõ hơn sự khác biệt giữa trách nhiệm tài sản của người chủ trong hai loại tổ chức có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân, hãy xem xét ví dụ sau:

Người A muốn mở một quán cà phê. Nếu A chọn thành lập một doanh nghiệp tư nhân (không có tư cách pháp nhân), khi quán cà phê gặp khó khăn, các khoản nợ của quán sẽ được trích từ tài sản cá nhân của A và A phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ đó.

Nhưng nếu A quyết định thành lập một công ty TNHH 2 thành viên trở lên (có tư cách pháp nhân), A chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Các khoản nợ của quán cà phê chỉ được trích từ tài sản của công ty và tài sản riêng của A sẽ không bị ảnh hưởng.

Tùy theo mục đích và kế hoạch kinh doanh của mỗi người, họ sẽ lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp để đảm bảo sự bảo vệ tài sản và tránh rủi ro trong kinh doanh.

Tổ chức phải nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Tổ chức phải có tư cách pháp nhân để tham gia các quan hệ pháp luật và có thể làm điều này thông qua người đại diện theo pháp luật. Người đại diện có thể là một cá nhân được ủy quyền để thực hiện các giao dịch dân sự cho tổ chức. Tổ chức có thể tham gia các quan hệ pháp luật với tư cách là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tòa án, trọng tài và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, nếu tổ chức không đáp ứng được ít nhất một trong bốn tiêu chí trên, thì nó không được coi là có tư cách pháp nhân.

 

3. Các quy định về pháp nhân

Một số quy định về pháp nhân quan trọng cần được làm rõ như: Quốc tịch của pháp nhân, tài sản của pháp nhân, thành lập, chi nhánh, đại diện pháp nhân….

Quốc tịch của pháp nhân

Các pháp nhân có thể là pháp nhân Việt Nam hoặc pháp nhân nước ngoài. Pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam.

Tài sản của pháp nhân

Tài sản của một pháp nhân bao gồm số vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên và thành viên, cùng với các tài sản khác mà pháp nhân có quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc các luật liên quan.

Thành lập, đăng ký pháp nhân

Pháp nhân có thể được thành lập theo đề xuất của cá nhân hoặc pháp nhân, hoặc dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy trình đăng ký pháp nhân bao gồm việc đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và các đăng ký khác, theo các quy định của pháp luật. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố rộng rãi.

Đại diện của pháp nhân

Có thể có hai loại đại diện cho pháp nhân, bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Đối với cả hai loại đại diện này, họ phải tuân thủ các quy định về đại diện được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật chuyên ngành khác như Luật Doanh nghiệp...

Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân

Chi nhánh và văn phòng đại diện là các đơn vị phụ thuộc của pháp nhân và không có tư cách là pháp nhân. Chi nhánh chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, trong khi văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện cho pháp nhân trong phạm vi được giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân. Thành lập và chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện phải tuân theo quy định của pháp luật và công bố công khai.

Người đứng đầu chi nhánh hoặc văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được uỷ quyền. Pháp nhân được quyền và có nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các giao dịch dân sự do chi nhánh hoặc văn phòng đại diện thực hiện và được xác lập theo quy định của pháp luật.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Sự gống nhau và khác nhau giữa pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê. Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.