1. Séc là gì?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định:
Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá trị ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào thời điểm nhất định.
Công cụ chuyển nhượng được pháp luật điều chỉnh gồm có hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường.
Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.
Người ký phát là người lập và ký phát hành séc. Người bị ký phát là người có trách nhiệm thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ, séc theo lệnh của người ký phát. Người thụ hưởng là người sở hữu công cụ chuyển nhượng với tư cách của một trogn những người: người được nhận thanh tooán số tiền ghi trên công séc theo chỉ định của người ký phát, người phát hành; người nhận chuyển nhượng séc theo các hình thức chuyển nhượng luật định; người cầm giữ séc có ghi trả cho người cầm giữ.
Theo các định nghĩa trên có thể hiểu séc là một loại giấy tờ có giá được người ký phát là cá nhân, tổ chức có tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản ở tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác thanh toán cho người thụ hưởng thông qua người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Cách lập và ký phát séc:
Tờ séc phải được lập trên mẫu séc trắng do người bị ký phát cung ứng; nếu séc được lập trên mẫu séc trắng không phải do người bị ký phát cung ứng thì người bị ký phát có quyền từ chối thanh toán tờ séc đó. Séc trắng là chứng từ để lập séc, được các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán in sẵn theo mẫu nhưng chưa được điền đầy đủ nội dung của các yếu tố theo quy định và chưa có hiệu lực là một tờ séc. Trên cơ sở này, người được cung ứng séc trắng lập lên tờ séc để trả cho người được trả tiền. Như vậy, để một tờ séc có hiệu lực, được thanh toán thì phải do ngân hàng hoặc các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác lập trên mẫu séc trắng mà do ngân hàng hoặc tổ chức đó cung ứng.
Séc được ký phát để ra lệnh cho người bị ký phát thanh toán trong các trường hợp: cho một người xác định và không cho phép chuyển nhượng séc bằng cách ghi rõ tên của người thụ hưởng và kèm theo một trong các cụm từ "không chuyển nhượng", "không trả theo lệnh"; cho một người xác định và cho phép chuyển nhượng séc bằng cách ghi rõ tên của người thụ hưởng và không có cụm từ không cho phép chuyển nhượng như đã nêu; cho người cầm giữ séc, bằng cách ghi cụm từ "trả cho người cầm giữ séc" hoặc không ghi tên người thụ hưởng.
Séc có thể được ký phát ra lệnh cho người bị ký phát thanh toán số tiền ghi trên séc cho chính người ký phát. Séc không được ký phát để ra lệnh cho chính người ký phát thực hiện thanh toán, trừ trường hợp ký phát để trả tiền từ đơn vị này sang đơn vị khác của người ký phát. Tức là người ký phát có thể ra lệnh cho ngân hàng hoặc các tổ chức cung ứng dịch vụ khác thanh toán séc cho mình nhưng không được tự mình ra lệnh thanh toán séc cho mình trừ trường hợp thanh toán séc để trả tiền giữa các đơn vị của mình.
Những yếu tố trên tờ séc phải được in hoặc ghi bằng bút mực, bút bi không viết bcác loại mực đỏ, mựa dễ bay màu, bút chì, không sửa chữa, tẩy xóa. Chữ viết trên séc phải là tiếng Việt. Trường hợp séc có yếu tố nước ngoài thì séc có thể sử dụng tiếng nước ngoài theo thỏa thuận của các bên. Số tiền ghi bằng chữ và số trên séc phải có giá trị bằng nhau. Ngày ký phát là ngày mà người ký phát ghi trên tờ séc và phải ghi bằng số. Chữ ký của người ký phát là chữ ký bằng tay trực tiếp lên tờ séc của người có quyền và nghĩa vụ đối với tờ séc hoặc người được ủy quyền lập và ký phát séc. Chữ ký của người ký cũng phải được ký bằng bút mực hoặc bút bi theo chữ ký mẫu đã đăng ký tại ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng, kèm theo họ tên và dấu (nếu có) của tổ chức trong trường hợp séc do người đại diện hợp pháp của tổ chức ký hoặc chữ ký điện tử nếu xử lý thanh toán bằng điện tử.
3. Quy định về từ chối thanh toán séc:
Theo Điều 74 Luật Các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì việc từ chối thanh toán séc được quy định như sau:
1. Séc được coi là bị từ chối thanh toán nếu sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 71 của Luật này, người thụ hưởng chưa nhận được đủ số tiền ghi trên séc.
2. Khi từ chối thanh toán séc, người bị ký phát, Trung tâm thanh toán bù trừ séc phải lập giấy xác nhận từ chối thanh toán, ghi rõ số séc, số tiền từ chối, lý do từ chối, ngày tháng xuất trình, tên, địa chỉ của người ký phát séc, ký tên và giao cho người xuất trình séc.
Việc thực hiện thanh toán séc được quy định về thời hạn và địa điểm cụ thể. Thời hạn xuất trình thanh toán séc là 30 ngày, kể từ ngày ký phát. Địa điểm thanh toán là địa điểm được ghi trên séc, nếu nội dung séc không có địa điểm thì địa điểm thanh toán được xác định tại địa điểm kinh doanh của người bị ký phát, hoặc Trung tâm thanh toán bù trừ séc nếu được thanh toán qua Trung tâm này. Ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác xuất trình yêu cầu thanh toán séc tại Trung tâm thanh toán bù trừ séc theo quy định của Trung tâm này. Khi séc được xuất trình để thanh toán theo đúng thười hạn và địa điểm xuất trình thì người bị ký phát có trách nhiệm thanh toán trong ngày xuất trình hoặc ngày làm việc tiếp theo nếu người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán.
4. Thời hạn từ chối thanh toán séc:
Theo như quy định trên thì séc được coi là bị từ chối khi người thụ hưởng chưa nhận được đủ số tiền ghi trên séc sau thời hạn tối đa là 32 ngày kể từ ngày ký phát trừ trường hợp thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán séc bị kéo dài (khoản 1 Điều 71, khoản 1, 2 Điều 69 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005).
Khi từ chối thanh toán séc thì ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hợp pháp, Trung tâm thanh toán bù trừ séc phải lập giấy xác nhận từ chối thanh toán, trong đó nội dung phải bao gồm số séc, số tiền từ chối, lý do từ chối, ngày tháng xuất trình, tên, địa chỉ của người ký phát séc, kèm theo đó là bảng kê chứng từ thanh toán.
5. Các vấn đề khác về thanh toán séc:
Các trường hợp được thực hiện thanh toán séc:
- Khi séc được xuất trình để thanh toán theo thời hạn và địa điểm xuất trình theo luật định như đã nêu trên thì người bị ký phát có trách nhiệm thanh toán trong ngày xuất trình hoặc ngày làm việc tiếp theo nếu người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán. Người bị ký phát không tuân thủ quy định này thì phải bồi thường cho người thụ hưởng tối đa bằng tiền lãi của số tiền ghi trên séc tính từ ngày séc được xuất trình để thanh toán theo mức lãi suất phạt chậm trả séc do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định áp dụng tại thời điểm xuất trình séc, với mức lãi hiện tại đang là 150% lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức cung ứng séc niêm yết tại thời điểm thanh toán séc (Điều 25 Thông tư số 22/2015/TT-NHNN ngày 20 tháng 11 năm 2015 Quy định hoạt động cung ứng và sử dụng séc).
- Trường hợp séc được xuất trình để thanh toán trước ngày ghi là ngày ký phát trên séc thì việc thanh toán chỉ được thực hiện kể từ ngày ký phát trên séc. Tức là trước ngày ký phát dù có được xuất trình séc thì cũng không được thanh toán cho đến ngày ký.
- Séc được xuất trình sau thời hạn xuất trình để thanh toán nhưng chưa quá 06 tháng kể từ ngày ký phát thì vẫn có thể được thanh toán nếu người bị ký phát (ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng) không nhận được thông báo đình chỉ thanh toán đối với séc đó và người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán. Tuy nhiên, việc thanh toán séc sẽ chấm dứt sau 06 tháng để từ ngày ký phát ghi trên séc. Trường hợp khoản tiền người ký phát sử dụng để ký phát séc không đủ để thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên séc theo quy định nếu người thụ hưởng yêu cầu được thanh toán một phần số tiền ghi trên séc thì người bị ký phát có nghĩa vụ thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng trong phạm vi khoản tiền mà người ký phát hiện có và được sử dụng để thanh toán séc. Như vậy khi chưa quá 06 tháng sau khi phát hành séc mà người thụ hưởng mới xuất trình séc để thanh toán thì vẫn được người bị ký phát thanh toán cho toàn bộ hoặc một phần séc nếu người phát hành không đủ tiền thanh toán trong tài khoản.
- Khi thanh toán một phần số tiền ghi trên séc, người bị ký phát phải ghi rõ số tiền đã được thanh toán trên séc và trả lại séc cho người thụ hưởng hoặc người được người thụ hưởng ủy quyền. Người thụ hưởng hoặc người được người thụ huưưởng ủy quyền phải lập văn bản biên nhận về việc thanh toán đó và giao cho người bị ký phát. Văn bản biên nhận trong trường hợp này được coi là văn bản chứng minh việc người bị ký phát đã thanh toán một phần số tiền ghi trên séc.
- Trường hợp séc được xuất trình để thanh toán sau khi người ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự thị séc vẫn có hiệu lực thanh toán theo quy định về thực hiện thanh toán tại Điều 71 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005.
Séc có thể chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng, trừ trường hợp trên séc có cụm từ "không được chuyển nhượng", "cấm chuyển nhượng" hoặc các cụm từ khác có ý nghĩa tương đương. Khi thanh toán séc đã được chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng, người bị ký phát phải kiểm tra để đảm bảo tính liên tục của dãy ký chuyển nhượng.
Séc có thể bị đình chỉ thanh toán khi người ký phát yêu cầu đình chỉ thanh toán séc mình đã ký phát thông qua việc thông báo bằng văn bản cho người bị ký phát yêu cầu đình chỉ thanh toán séc khi séc được xuất trình yêu cầu thanh toán. Tuy nhiên thông báo đình chỉ thanh tooán séc chỉ có hiệu lực sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký phát. Người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên séc sau khi séc bị người bị ký phát từ chối thanh toán theo thông báo đình chỉ thanh toán của mình.
Séc không được chấp nhận hoặc không được thanh toán có thể được truy đòi nếu thuộc một trong các trường hợp: số tiền không được chấp nhận hoặc không được thanh tooán; chi phí truy đòi, các chi phí hợp lý có liên quan khác. Nhưng phải đáp ứng đủ điều kiện là người thụ hưởng có quyền truy đòi, có văn bản thông báo truy đòi hợp lệ trong thời hạn 04 ngày làm việc, kể từ ngày bị từ chối chấp nhận hoặc từ chối thanh toán.
Trên đây là ý kiến tư vấn về từ chối thanh toán séc và các vấn đề về thanh toán séc. Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến séc, hối phiếu, các loại công cụ chuyển nhượng, luật ngân hàng, luật tổ chức tín dụng hãy liên hệ theo thông tin dưới đây để được tư vấn cụ thể và toàn diện nhất.
Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến. Đội ngũ luật sư/chuyên viên luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.
Trân trọng./.