NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Vài nét về bối cảnh lịch sử
Trải qua mấy ngàn năm ông cha ta đã để lại một giang sơn thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau, đã hình thành một lịch sử không ngừng phát triển, trong đó có sự phát triển về tổ chức Nhà nước và pháp luật, với các bộ lùật nổi tiếng như Hình thư (Đời Lý), Quốc triều Điều Luật (Đời Trần), luật Hồng Đức (Đời Lê) v.v..., trong đó Luật Hồng Đức được thế giới ngày nay đánh giá cao, ngang tầm các bộ luật cổ điển ở phương Đồng.
Cuối thế kỳ 18 thực dân Pháp xâm chiếm nưóc ta, chia nước ta thành ba kỳ, mỗi kỳ chúng áp đặt một chế độ cai trị, mà thực chất chỉ là thủ đoạn chính trị “Chia để trị”. Đó là Xứ Nam Kỳ thuộc địa, Trung kỳ nửa thuộc địa, và Bắc kỳ bảo hộ ứng với mỗi kỳ đó đông thời là những chế độ pháp lý khác nhau, song du khác nhau như thế nào, tất cả mọi chế độ pháp lý đó đều lấy đi quyên tự do, dân chủ của nhân dân ta.
Sống trong đất nước thuộc địa đó, dù là thực tế thuộc địa Bắc, Trung hay Nam kỳ, Nguyễn Ái Quốc đều đã thấy cái chung nhất của pháp lý thuộc địa của Pháp ở Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung. Từ 1921 đến 1926 Người đã có hàng loạt bài báo vạch trần, bản chất phản nhân dân thuộc địa của nền “Công ìý” thực dân. Theo Người “ở Đông Dương có hai thứ công lý: Một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như ở Pháp. Người Việt Nam thì không có Hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người Việt. Người ta xử án và tuyên án theo giấy tờ vắng mặt người bị cáo. Nếu có vụ kiện cáo giữa người Việt Nam với người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ăn cướp hay giết người”.
Trong gần một thế kỷ bị lệ thuộc Pháp, nhân dân ta đã liên tiếp chống lại. Nhưng tất cả các cuộc kháng cự đó không thành. Sở dĩ như vậy, theo Hô Chí Minh là vì “nhân dân chưa giác ngộ, không có chủ nghĩa, không có kế hoạch, không có sách lược, không biết đoàn kết, chưa có Đảng cách mạng";
2. Hồ Chí Minh và sự lựa chọn Nhà nước kiểu mới và pháp luật Việt Nam
2.1 Con đường cách mạng
Trong bối cảnh như trên của Việt Nam, sự lưa chọn Nhà nước kiểu mới cũng có nghĩa là sự lựa chọn con đường cách mạng, chọn cách làm cách mạng. Điều đó, Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy tầm quan trọng, có tính quyết định cho việc biến lòng yêu nước thành sự cứu nước hữu hiệu. Đồng thời với Người, có không ít nhà yêu nước vĩ đại. Nhưng tất cả họ không thấy hết ý nghĩa của con đường cứu nước như thế nào, cho rằng mỗi người có thể có cách riêng; Với Nguyễn Ái Quốc không phải là như vậy. Phải có một con đường như thế nào đó mới có thể cứu được nước. Vì vậy mà Người đã đặt cho mình nhiệm vụ tìm đường cứu nước. Con đường mà Người tìm ra sau này được Người gọi là “Đường cách mạng”.
Đường cách mạng có thể có nhiều theo con mắt yêu nước đương thời, trong đó có Phân Bội Châu, Phan Chu Trinh. Nhưng với Nguyễn Ái Quốc, con đường đó chỉ có thể la con đường “Cách mạng tháng Mười Nga”, Đó là sự lựa chọn không giản đơn. Với lòng yêu nước nồng nàn, với khát vọng cháy bỏng là giành độc lập dân tộc, giải phóng đồng bào, Nguyên Ái Quốc lại chọn con đường Cách mạng tháng Mười Nga là con đường cách mạng XHCN, sự lựa chọn đó vừa hợp quy luật của thời đại, vừa là sự phát triển hợp đạo lý của chính tư tưởng của Người. Đó là quá trình như chính Người nói lại sau này, từ chủ nghĩa yêu nước đến CNXH của một người yêu nước chân chính.
Đường cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc chọn đã được Người cụ thể hóa trong Cương lĩnh tháng 2 năm 1930, khi thành lập Đảng, với nội dung như sau:
+ Đánh đế quốc Pháp, phong kiến Việt Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng;
+ Làm cho Việt Nam độc lập;
+ Thành lập Chính phủ công-nông-binh;
+ Thực hiện nam-nữ bình quyền.
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin. Người đã tìm ra con đường cứu nước cho Việt Nam. Người đã gắn cách mạng giải phóng đàn tộc với cách mạng vô sản thế giới, Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của Chủ nghĩa Cộng sản và cách mạng thế giới”. “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Như vậy là Người đã đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới. Cái nhìn vượt lên trên tất cả các nhà yêu nước Việt Nam đương thời, chính là ở chỗ này. Sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam và nguyên nhân thắng lợi của nó chính là bắt nguồn từ đây.
2.2 Kiểu cách mạng quyết định kiểu Nhà nước
Việt Nam đã sống hàng mấy nghìn năm dưới chế độ phong kiến. Nhà nước phong kiến đã có nhiều thế kỷ cường thỊnh một thời (Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê...) Nhưng đến thời Nhà Nguyễn thì tỏ ra bạc nhược, cuối cùng là rước bọn giặc phương Tây về giày xéo đất nước, nên Nhà nước phong kiến trong thời đại mới không còn đáp ứng đứợc nhu câu của nhân dân nữa. Thực dân Pháp cho truyên bá vào Việt Nam những quan điểm của họ về Nhà nước phương Tây.
Nhưng với những thực tế mà Người đã tận mắt nhìn thấy, Nguyễn Ái Quốc đã nhận rõ bản chất của Nhà nước tư sản. Cái mà bọn thực dân ca tụng là “khai hóa” cho dân thuộc địa, Người chì thấy có bóc lột, áp bức vô cùng tàn bạo. Cái mà bọn thực dân ca tụng là “tự do, bình đẳng, bác ái”, Người chỉ thấy giả dối. Người viết trong bản án chủ nghĩa thực dân Pháp: “Chế độ thực dân Pháp chỉ làm lợi cho một bọn đầu cơ, cho Những tên chính khách bất lương và vô tài ở chính quốc, cho bọn buôn rượu và thuốc phiện, cho lũ con buôn vô liêm sỉ và bọn lý tài xấu xa”. Nguyễn Ái Quốc suy nghĩ rất nhiều về kiểu Nhà nước sẽ phải xây dựng ở Việt Nam.
Trong khi nhiêu ngươi chán ngán với tất cả các kiểu Nhà nước phong kiến, tư sản, cải lương, thì Nhà nước kiểu mới - Nhà nước Xô viết Nga xuất hiện ở một phần trái đất, khác hẳn với tất cả các kiểu Nhà nước trước đó. Nhà nước kiểu mới ấy mới ra đời, còn chịu nhiều thử thách, còn bị bọn tư sản phản động ra sức vu cáo, xuyên tạc, chế giễu Nhưng với cái nhìn nhậy bén sáng suốt, Nguyễn Ái Quốc lại thấy ở đó cái mầm non cường tráng, đầy sinh lực, đầy triển vọng. Đối với nước Nga và Lênin, Người viết: “Có một dân tộc ở miên Bắc xa xôi đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình, ơ các nơi xa xăm hèo lánh nhất, người ta cũng đã biết làng nước đó là nước Nga, và Lênin là người ưu tú nhất của nước đó”. Vấn đê đặt ra là làm thế năo giành lại chính quỵên thoát ra khỏi vòng nô lệ của đế quốc.
Thấm nhuần tứ tưởng “giai cấp vô sản ‘phải bằng con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị”, tư tưởng phải “đập tan” bộ máy thống trị cũ chứ không phải cải biến nó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi nhân dân ta đứng lên làm cách mạng, “lấy sức ta giải phóng cho ta, đánh đổ chính quyền của thực dân và phong kiến lập nên chính quyền của mình, không có con đường nào khác”.
Nguyễn Ái Quốc: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại đế quốc phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Tư tưởng giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng được nhân mạnh trong nhiêu văn kiện của Đảng:
Trong Chính cương sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thảo và được thông qua trong Hội nghị thống nhất Đảng (tháng 2-1930);
- Trong Lời kêu gọi của đồng chí Nguyên Ái Quốc nhân dịp thống nhất và thành lập’Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Trong Luận cương chính trị (tháng 10-1930) của Đảng do đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng dự thảo.
Được đường lối của Đảng soi sáng, các cuộc đấu tranh đâ nổ ra liên tiếp, mạnh mẽ ở khắp Bắc, Trung, Nam. Phong trào giành chính quyên bằng bạo lực cách mạng ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Nhân dân ở đó đã đập tan bộ máy chính quyền của thực dàn, phong kiến và dựng lên chính quyền Xô viết.
Mặc dầu sau đó Xô Viết Nghệ Tình bị dim trong bể máu, nhưng ý nghĩa của nó đối với cách mạng Việt Nam đối vớị việc hình thành một Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam thật là to lớn.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bừng nổ. Đảng qúýết 'định chuyển hưđng cách mạng, nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng- dâĩi tộc là nhiệm vụ hàng đầu (Hội nghị Trung ương Tân thứ‘6; tháng 11-1939; Hội nghị Trung ương lần thứ .7, tháng 11-1940). Hội nghị .Trung ương Ịần thứ 7 đặt nhiệm vụ của Đảng.lạ phải “chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lạnh đạo. các dân tộc bị áp bức ở Đồng Dương, vũ trang bạo động giành lấy quyên tự do, độc lập”. Ngày 8-2-1941, đồng chí Nguyen Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mắng. Đại ban doanh của Người đóng tại Pắc Bố (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Tỉnh Caò Bằng). Thẳng 5-1941,’Người triệu tập và chủ,trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. “Hội nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đồng Dương. Cho nên trong lúc này quyền lơi, của bô phận và của giai .cấp phải phục tùng quỳện lợi tối cạp của dân tộc; trước, hết, phải giành kỳ được độc lập cho dân tộc và tự do chồ đồng bào” Hội nghỉ Trung ương Tân thứ 8 cờn nhận định: “Muô'n giành thắng lợi, phải dùng khởi nghĩa vũ trang”. Ngày 6-6-1941 đồng chí Nguyễn Ái Quốc có thứ gửi đồng1bào: “Hẳy kịp đứng lên! TỔ chức Hội cứu quốc chống Pháp, chống Nhật!..: Giờ đây công cuộc giải phóng dãn tộc là cao hơn tất cả!"
Cũng năm 1941, dưới sự lãnh đạo cựa Đấng Mặt trận Việt Nam độc lập đòng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời. Căc khu giải phóng dần dần được thành lập, trong đó Mặt trận làm nhiệm vụ một chính quyền lâm thời?
Đây là những bước phôi thai của Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam: Đây cũng là kinh nghiệm rất đặc biệt của Việt Nam trong hoàn cảnh một nước thuộc địa tiến lên giành lấy Nhà nước về tạy mình. Sau này, kinh nghiệm này còn được áp dụng một cách rất sáng tạo ở miên Nam Việt Nam hồi chống Mỹ.
Sau đảo chính Nhật 9-3-1945, chì thị nổi tiêng Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng tả đã' khẳng định thời cơ giành chính quỳẽn về tay nhân dân.
Tháng 4-1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ ra nghị quyết Tiên tới tổng khỏi nghĩa.
Trong thực tế, ở các căn cứ địa, các Uy băn Nhân dân cách mạng đá được thành lập, theo những nguyên tắc rất dân chủ: dùng đầu phiếu phổ thông mà bầu các đại biểu.
Chỉ thị ngày 16-4-1945 của Tổng bộ Việt Minh, dưới sự lãnh đạo "của Đảng lại phân tích kỹ tính chất tiên - Chính phủ và tính chất qùá độ của Uy ban giải phóng.
“Tháng 6-1945, căn cứ vào Nghị quyết của Hội nghị cán bộ sáu tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên do Tổng bộ Việt Minh triệu tập, khu giải phóng đã chính thức thành lập, bao gôm địa hạt sáu tỉnh và thông nhất các vùng đặt dưới chính quyền cách mạng".
Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, Đảng ra lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, lập ra Nhà nước kiểu mới củà mình.;
Trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân khống có chỉnh quỳền,phương pháp và hình thức giành chình quyền do Bác Hồ và Đảng vạch ra thật vố cùng chính xác và sang tạo, và ‘đã thành công một cách kỳ diệu,
2.3 Kiểu cách mạng và kiểu Nhà nước quyết định bản chất của pháp luật
Từ xưa Nhà nước phong kiến Việt Nam đã có những pháp luật của mình. Có nhửng triều đại đã có những thành tựu nổi tiếng còn truỳên tụng đến ngày nay, như bộ Hình thư đời Lý (thế kỷ XI), bộ luật Hồng Đức đời Lê (thế kỷ XV), v.v... ;
Từ 1862 đến 1884 (yới việc, ký hiệp ưổc Patenôtre), thực dân Pháp đã hoàn thành việc xâm lược Việt Nam. Chúng đặt ra cả một hệ thô'ng pháp luật mổỉ, luật hình sự, dân sự, hành chính, v.v... cả một hệ thông tòa án, nhà tù vô cùng hà khắc để đàn áp nhân dân và để củng cố nên thống trị của chúng.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo tính chất bất công, vô nhân đạo của thứ pháp luật đó và đòi hỏi nhân dân phải có pháp luật của mình. Nhân dân muốn có pháp luật của mình tất nhiên phải có chính quýên của mình. Người nói: “Nhà nước nào có pháp luật ấy, Nhà nước và pháp luật chẳng qua là công cụ của giai cấp thống trị, không có gì khác”
Tự tựỏng này được quán triệt trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người. Cho nên việc xây dựng pháp luật cho nhân dần gắn liên vói việc đánh đổ đế qúốc, phong kiến, giành .lại chính quyền về tay nhân dân.
Tư tưởng này được phản ánh rất rõ ràng trong Luận ẹựơng chính trị (1930) của Đảng: “Chỉ có chính quyền xô viết công nông mđi là cái khí cụ rất mạnh mà đánh đổ đế quốc, chủ nghĩa phong kiến, địa chủ, làm cho dân cày có đất mà cày, làm cho vô sản có pháp luật bảo hộ quyền lợi của mình”
Ngay từ trứđc. khi giành được chính* quyền trong cả nưđc, ở Khu giải phóng, “ủy ban Nhân dân cách mạng do các giới đồng bào cử lên, đã thay hẳn bộ máy cai trị của Nhật, Pháp và thực tế nắm chihh quyền
Về pháp luật, trong khu giấi phóng đã CÓ những phương hướng rõ rệt và những mầm mộng của pháp luật cho chế độ mới. Đó là mười chính sách lớn mà Uy ban Nhân dân cách mạng đã ban hành và thực hiện trong khu giải phóng:
- Thủ tiêu lực lượng của Nhật; trừ khử Việt gian, trừng trị lưu manh;
- Tịch thu tài sản của lũ giặc nước và của việt gian tùy trường hợp để làm của chung toàn dân hoặc chia cho dân nghèo;
- Thực hiện quyền phô .thông tuyển cử và các quyền tự dọ dân chủ khác;
- Vũ trang quân chúng: động viên quần chúng nhân dân ủng hộ du kích và tham gia giải phóng quân kháng Nhật;
- Tổ chức khai hoang, khuyến khích sản xuất, thực hiên H ' kinh tế tự túc của khu giải phóng;
- Han chế ngày lan rộng, thi hành luật pháp điểm cứu tế nạn nhân
- Chia lại ruộng đất, giảm địa tô, giảm lợi tức và hoãn
- Bỏ thuế khóa và phu dịch; dự định đặt thuế lụy tiến . lợi tức dụy nhất và nhẹ;
- Chống nạn mù chữ và huấn luyện quân sự, chính trị phổ thông cho nhân dân;
- Dân tộc bình đẳng, gái, trai ngang, quyên.
Mứời chính sách này bao quát các mặt chính trị, quân sự, kính tế, văn hóa, xã hộĩ. Bẳn chất ciia pháp luật xẫy dựng trên những hướng này nói iên tính chất cách mạng, tính chất dân chủ, tiến bộ, hoàn toàn khác vởi bản chất của pháp luật đứới chẽ độ cũ . Nhân dân Việt Nám fân đầu tiên đượcsử đụng quyền phố’ thông tuyển cử và 'các quyền tự dò dân chủ khấc, quyên dân tộc bình đẳng' gai, trai ngang quyên: bước đầu được chia lậi ruộng công, được giẫm tó, giãm tức v.v... Đây cũng là những hướng cơ bản cho việc xây dựng pháp luật khi chúng ta giànhfđược chính quyền trong cả nước và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nguyễn Ái Quốc, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Đồng thời cũng là người sáng' lập ra Nhà nước kiểu mới và pháp luật của ta.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!