1. Bình đẳng giới là gì?
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
2. Vì sao phải thực hiện bình đẳng giới?
Từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề bình đẳng nam nữ thông qua việc kiên quyết phản đối “đa thê” của chế độ cũ; vì vậy, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ viết cuối năm 1924 gửi Quốc tế Cộng sản, Người khẳng định: “Sở dĩ tôi phản đối đa thê vì nó cản trở giải phóng phụ nữ An Nam” (2). Tiếp đó, trong Báo cáo gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Người đã đặt vấn đề và mong muốn được thành lập tổ chức riêng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và sự tiến bộ của phụ nữ: “Chúng tôi có thể tổ chức Hội phụ nữ được không, như Hiệp hội giải phóng phụ nữ (cho phụ nữ tiểu tư sản và tiểu thương, những người buôn bán nhỏ trong làng? Công nhân trong nhà máy xe lửa)” (3).
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tính tất yếu phải thực hiện bình đẳng nam nữ là xuất phát từ mục tiêu và tính chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; đó là cuộc cách mạng toàn diện, triệt để nhằm thực hiện mục đích giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng loài người, trong đó có phụ nữ; đồng thời cũng là giải quyết vấn đề lực lượng (động lực) cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, trong Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình, Người cho rằng: “Bây giờ toàn dân ta ai cũng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất cho thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ. Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” (4).
3. Thế nào là nam nữ bình quyền?
Tiếp thu những giá trị từ Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, trong Thư từ Trung Quốc, số 1 viết ngày 12-11-1924 đề tên LOO SHING YAN - nữ đảng viên Quốc dân Đảng nhân kỷ niệm 7 năm Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Người đáng giá cao những tác động tích cực của cuộc Cách mạng này đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ: “Hôm nay, chúng tôi ở đây để làm lễ kỷ niệm cuộc Cách mạng vĩ đại nhất mà lịch sử đã chứng kiến: Cuộc Cách mạng Nga. Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chân chính và quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người. Chính nhờ cuộc cách mạng này mà sự giải phóng phụ nữ sẽ có giá trị và có những ý nghĩa đầy đủ, trọn vẹn” (5).
Theo Người, nội hàm của nam nữ bình quyền rất cụ thể; đó là những quyền cơ bản mà họ phải được hưởng như đàn ông. Trong bài viết, Nam nữ bình quyền, trên Báo Nhân dân, số 408, ngày 14/4/1955 Người giải thích: “Một nhóm nữ học sinh hỏi: Địa vị của phụ nữ Liên Xô thế nào? Trước hết, hoan hô các em đặt câu hỏi thiết thực. Đây là câu trả lời: Phụ nữ Liên Xô hưởng tất cả mọi quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội như đàn ông…” (6). Về phụ nữ Việt Nam, chưa thể thực hiện ngay những quyền cơ bản này và kêu gọi phụ nữ ta phải nỗ lực rất nhiều để vươn tới sự bình đẳng như phụ nữ Liên Xô: “Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chúng ta, nam nữ cũng bình quyền. Phụ nữ ta cũng có tài có sức, nhưng vì bị bọn thực dân áp bức 80 năm qua, cho nên phụ nữ ta còn ít người tham gia các ngành hoạt động. Các em chăm lo học hành, rèn luyện tài đức, thì mai sau các em nhất định theo kịp chị em phụ nữ Liên Xô” (7).
4. Phương thức để thực hiện nam nữ bình quyền
Thứ nhất, Đảng Cộng sản phải sớm đưa nội dung nam nữ bình quyền vào Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết của mình. Theo Người, đây là nguyên tắc và điều kiện tiên quyết để xây dựng cơ sở xã hội của Đảng; vì vậy, ngay sau khi Đảng ta được thành lập, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Đảng ta đã chủ trương: “Nam nữ bình quyền” (8). Nhất quán quan điểm này, trong Lời kêu gọi, thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam, Người kêu gọi: “Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để: … 10) Thực hiện nam nữ bình quyền” (9). Tư tưởng này cũng được xác định là chương trình thứ 6 của Việt Nam độc lập đồng minh, Mục A - CHÍNH TRỊ của Chương trình Việt Minh có viết: “6. Nam nữ bình quyền” (10).
Thứ hai, Nhà nước phải thể chế hóa chủ trương nam nữ bình quyền của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, trong Diễn văn khai mạc phiên họp đầu tiên của Ban sửa đổi Hiến pháp đọc ngày 27/2/1957 và được đăng trên Báo Nhân dân, số 1089, ngày 1-3-1957 Người đưa ra yêu cầu rất cao đó là: “Bản Hiến pháp chúng ta sẽ thảo ra phải là một bản Hiến pháp phát huy cái tinh thần tiến bộ của Hiến pháp năm 1946, đồng thời phải phản ánh đầy đủ tình hình thực tế của chế độ ta do cuộc cách mạng phản đế, phản phong thắng lợi đã mang lại; phản ánh đúng đắn con đường đang tiến lên của dân tộc ta... Nó phải thật sự bảo đảm nam nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng, v.v..” (11).
Cụ thể hóa bộ luật gốc là Hiến pháp về bình đẳng nam nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ ta nhanh chóng soạn thảo Luật Hôn nhân và Gia đình. Một yêu cầu có tính nguyên tắc mà Người đưa ra khi xây dựng Luật là phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, để Luật không chỉ mang tính chất pháp lý mà còn mang tính Đảng, tính nhân văn cao cả. Vì vậy, trong Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình, một mặt, Người khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng và ban hành luật: “Luật lấy vợ lấy chồng sắp đưa ra Quốc hội là một cuộc cách mạng, là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy phải đứng trên lập trường vô sản mà hiểu nó. Nếu đứng trên lập trường phong kiến hay là tư sản, tiểu tư sản mà hiểu luật ấy thì không đúng. Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông” (12). Mặt khác, Người yêu cầu phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình chuẩn bị, ban hành và thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình; đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng khi thực hiện luật này: “Đối với luật lấy vợ lấy chồng từ lúc chuẩn bị đến lúc đưa ra và thi hành, Đảng phải lãnh đạo vì đó là một cuộc cách mạng. Đảng lãnh đạo nghĩa là cán bộ và đảng viên phải làm cho đúng và lãnh đạo các đoàn thể thanh niên và phụ nữ kiên quyết làm cho đúng” (13).
Thứ ba, phải tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ. Vì vậy, trong bài viết Phải thật sự tôn trọng quyền lợi của phụ nữ trên Báo Nhân dân, số 2409, ngày 23/10/1960, Người giải thích: Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Hiến pháp và pháp luật của nước ta đã quy định rõ điều đó. Ví dụ: Hiến pháp điều 24 nói: Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình, điều 1 nói: Nhà nước đảm bảo... nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ... Điều 12 nói: Trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt” (14). Hơn thế nữa, Người chỉ ra trách nhiệm và cách thức các đoàn thể và bản thân người phụ nữ trong bảo vệ quyền lợi của phụ nữ: “Để thật sự bảo vệ quyền lợi của phụ nữ thì:
- Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phải phụ trách tuyên truyền và giáo dục một cách rộng khắp và bền bỉ cho mỗi gia đình hiểu rõ pháp luật Nhà nước và thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa về vấn đề ấy” (15).
- “Bà con trong làng xóm và trong hàng phố cần phải có trách nhiệm ngăn ngừa, không để những việc phạm pháp như vậy xảy ra.
- Bản thân chị em phụ nữ phải có chí tự cường tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình.
- Đối với những người đã được giáo dục khuyên răn mà vẫn không sửa đổi, thì chính quyền cần phải thi hành kỷ luật một cách nghiêm chỉnh”(16).
Thứ tư, phát huy vai trò chủ quan của chính phụ nữ trong thực hiện bình đẳng nam nữ. Đây chính là khả năng tự bảo đảm quyền bình đẳng của chính mình; bởi suy đến cùng, mọi chủ trương, đường lối Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước và sự giáo dục, thuyết phục các đoàn thể chính trị xã hội chỉ có hiệu quả khi từng chị em và tất cả phụ nữ tiếp nhận và chuyển hóa thành ý thức tự giác; phải biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, không bị động, trông chờ, ỷ lại để vươn lên địa vị bình đẳng với nam giới. Vì vậy, Người căn dặn: “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh” (17). Về vấn đề này, trong Bài nói chuyện tại đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III ngày 9/3/1961 Người tiếp tục khẳng định: “Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” (18).
5. Giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước
Người luôn theo dõi sát sao và tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia vào sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng nhà nước. Đặc biệt, Người rất quan tâm đến công tác phát triển đảng trong quần chúng phụ nữ. Khi làm việc với các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương, Người luôn chú ý đến số lượng cán bộ nữ. Người hiểu rõ khả năng to lớn của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch ủy ban hành chính, bí thư chi bộ đảng, v.v..”19 và Người vui mừng trước việc ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào công việc quản lý: “Từ ngày nước ta được giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng một trong những tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyền ngày càng nhiều”20.
Thực hiện nam nữ bình quyền, theo Hồ Chí Minh: “Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”21. Để thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng nam nữ, Hồ Chí Minh nhắc nhở chị em “phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập”22. Người chỉ rõ cho các cấp ủy đảng và chính quyền “phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ”23.
Quan tâm tới vị trí của phụ nữ trong xã hội, Hồ Chí Minh cũng đồng thời nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, một trong những nhiệm vụ của phụ nữ dưới chế độ ta là phải “hăng hái tham gia chính quyền”. Người còn nói, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy là một thiếu sót của Đảng. Nguyên nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lý, theo Người là vì: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai”24 Không chỉ phê bình những tư tưởng hẹp hòi đối với phụ nữ, Người còn đòi hỏi phải tích cực sửa chữa. Người đã đặt trách nhiệm của Đảng đối với sự phát triển của phụ nữ. Người khẳng định: Phải giải phóng phụ nữ thực sự, giải phóng phụ nữ thì bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể: “Từ nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa”25, “phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”... “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”26.
Hồ Chí Minh còn đặt vấn đề về phụ nữ, phát huy vai trò và phát triển năng lực sáng tạo của phụ nữ, coi đó là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó có sự tự vươn lên của chị em phụ nữ: Đảng và Chính phủ ta cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ để người phụ nữ phụ trách ngày càng thêm nhiều mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân người phụ nữ thì phải cố gắng. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng cho phụ nữ.
Như vậy, bình đẳng giới theo tư tưởng của Hồ Chí Minh:
Thứ nhất, phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong xã hội không chỉ vì họ là lực lượng lao động to lớn, mà còn vì họ là những người tham gia xây dựng, cải tạo xã hội. Ngoài thiên chức làm mẹ, thì khả năng làm việc, sức sáng tạo khi làm việc cho cộng đồng của phụ nữ không thua kém đàn ông.
Thứ hai, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội sẽ không mang tính cách mạng đầy đủ nếu không thực sự giải phóng phụ nữ, bởi vì, họ là một nửa nhân loại, một nửa xã hội. Thứ ba, dưới chế độ ta - chế độ mọi người dân đều là chủ xã hội, nam nữ bình đẳng về vị trí, bình đẳng về quyền lợi, thì phụ nữ phải có vị trí xứng đáng với vai trò của mình. Lịch sử dân tộc ta cũng đã chứng minh rằng, phụ nữ Việt Nam có thể làm được và làm tốt mọi công việc to lớn mà lịch sử đòi hỏi, đất nước trao cho.
Thứ tư, cần phải xóa bỏ tàn dư phong kiến trọng nam khinh nữ, coi thường, xem nhẹ khả năng làm việc xã hội của phụ nữ; chỉ có vậy mới thực sự giải phóng phụ nữ, để cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo có ý nghĩa cách mạng đầy đủ, có tính nhân văn sâu sắc.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữ bình đẳng đã trở thành lý tưởng cách mạng, vừa thể hiện ý thức chính trị, lòng nhân ái vừa thể hiện giá trị văn hóa, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản của Người.
--------------
Chú thích:
(1) (4) (12) (13) (14) (16) (17) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.507; tr.300; tr.300; tr.300; tr.705; tr.706; tr.707; tr.301
(2) Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, tr.507
(3) (8) (9) (10) Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, tr.61; tập 3, tr.1; tr.22; tr.630
(5) Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, tr.7
(6) (7) Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, tr.406; tr.406
(11) Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, tr.510
(18) Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, tr.60
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.300, 639.
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, t.15, tr.173.
(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, t.7, tr.342.
(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, t.14, tr.313.
(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, t.13, tr.260.
(24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, t.15, tr.275, 617.
(25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.640.
(26) Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên): Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, H.2008, tr.42.
Tài liệu tham khảo:
1. Sự hình thành và vai trò của ngành Tư pháp trong chính thể nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (NXB Tư Pháp);
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam - PGS, TS. Đỗ Thị Thạch, ThS. Nguyễn Thị Tuyết - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ - Nguyễn Bảo Minh (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam).