Kế toán trường này đưa giá trị cây xanh đã mua vào nguyên giá tài sản cố định và khấu hao hàng năm. Hay Trường đại học kinh doanh về dạy học, dạy nghề  và đơn vị này không phải là 01 doanh nghiệp kinh doanh cây xanh công viên hay là một doanh nghiệp lâm nghiệp... và các tài sản cố định là cây xanh trên không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Hơn nữa vì trường quá rộng nên số cây xanh này được trồng vào các khoản đất trống trong trường nên không thể được xem là tài sản cố định.

Vậy việc đưa giá trị cây xanh trên vào tài sản cố định và khấu hao có đúng quy định của pháp luật không? Nếu không đưa vào tài sản cố định mà đưa vào công cụ để phân bổ chi phí dần thì có đúng quy định của pháp luật không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.V

>> Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

 

Trả lời: 

1. Quy định về đưa cây xanh vào nguyên giá tài sản cố định

Theo quy định tại Điều 3, Thông tư 45/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định thì vườn cây lâu năm cũng được coi là tài tài sản cố định hữu hình nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình. Về tiêu chuẩn của tài sản cố định cũng được quy định như sau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;

- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Tuy nhiên, do trường đại học ngoài công lập thuộc tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 7 Luật giáo dục) nên sẽ được điều chỉnh chủ yếu bởi Thông tư 162/2014/TT-BTC Quy đinh chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước. Theo đó, Điều 3 thông tư 162/2014/TT-BTC có quy định về tiêu chuẩn tài sản cố định hữu hình trong các đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp như sau:

“Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất, có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, thoả mãn đồng thời cả 2 tiêu chuẩn dưới đây:

a) Có thời gian sử dụng từ 01 (một) năm trở lên;

 b) Có nguyên giá từ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên.”

Điều 4 Thông tư 162/2014/TT-BTC cũng quy định:

“Những tài sản (trừ tài sản là nhà, vật kiến trúc) có nguyên giá từ 5 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng và có thòi gian sử dụng trên một năm được quy định là tài sản cố định đặc thù.”

Do đó, trong số những cây xanh mà nhà trường mua có giá trị từ 10.000.000 (mười triệu) đồng trở lên thì được xếp vào tài sản cố định hữu hình. Còn những cây xanh có giá trị dưới 10.000.000 (mười triệu) đồng nhưng không nhỏ hơn 5.000.000 (năm) triệu đồng thì được xếp vào tài sản cố định đặc thù.

Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 7 Thông tư 162/2014/TT-BTC cũng quy định về các đối tượng ghi sổ kế toán tài sản cố định cũng bao gồm vườn cây:

“5. Vườn cây thuộc khuôn viên đất độc lập, có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên (không tính giá trị quyền sử dụng đất); hoặc từng cây lâu năm có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên được xác định là một đối tượng ghi sổ kế toán tải sản cố định”.

Về việc trích khấu hao đối với tài sản cố định này: Do vườn cây trồng trong khuôn viên trường không phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuât, kinh doanh mà chỉ nằm trong quy hoạch cảnh quan trường nên không được trích khấu hao mà chỉ được tính hao mòn tài sản cố định theo quy định tại Điều 14 Thông tư 162/2014/TT-BTC:

“1.Tài sản cố định của cơ quan, tổ chức, đơn vị không tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết, thì cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện tính hao mòn tài sản cố định theo quy định tại Thông tư này; không trích khấu hao.”

Mức hao mòn tài sản cố định được tính theo quy định tại Điều 13 Thông tư 162/2014/TT-BTC như sau:

Mức hao mòn hàng năm  = Nguyên giá của tài sản  x     Tỷ lệ tính hao

của từng tài sản cố định           cố định                          mòn (% năm)

Phương pháp tính nguyên giá tài sản cố định được thực hiện theo quy định tại Điều 8 Thông tư 162/2014/TT-BTC

Về thời gian sử dụng và tỷ lệ hao mòn được quy định tại phụ lục I thông tư 162/2014/TT-BTC như sau:

Loại 9

Cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm

Thời gian sử dụng (năm)

Tỷ lệ hao mòn (%)

1

Các loại súc vật

8

12,5

2

 Cây lâu năm, vườn cây công nghiệp, vườn cây ăn quả, vườn cây lâu năm.

25

4

3

 Thảm cỏ, thảm cây xanh, cây cảnh, vườn cây cảnh

8

12,5

Về việc đưa vào công cụ, dụng cụ để phân bổ chi phí: Do vườn cây không phải là phương tiện trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, không được trích khấu hao TSCĐ nên cây xanh không phải là công cụ, dụng cụ để phân bổ chi phí. Hơn nữa, cây xanh được xếp vào loại 9, còn công cụ, dụng cụ được xếp vào loại 4,5,6,7 theo quy định tại Điều 6 Thông tư 162/2014/TT-BTC.

>> Xem thêm: Cách xác định nguyên giá Tài sản cố định chuẩn và chi tiết nhất

 

2. Một số khái niệm khác liên quan đến tài sản cố định

2.1 Khái niệm tài sản

Với tư cách là khách thể quyền sở hữu – đã được Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định như sau: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Theo đó:

- Tài sản là Vật

Vật là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí).

Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó (vật chất) của con người. Tuy nhiên, không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật.

Ví dụ: Không khí trong tự nhiên, nước suối, nước sông, nước biển… không được coi là vật. Nhưng nếu đóng vào bình nước, hay được làm nóng, làm lạnh… lại được coi là vật.

Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con ngưòi, vật có thực vdi tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đăc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự.

Do sự phát triển của khoa học, công nghệ, khái niệm vật trong khoa học pháp lý cũng được mở rộng.

Ví dụ: Phần mềm trong máy tính hoặc chất thải nếu sử dụng làm nguyên liệu sẽ được coi là vật, nhưng bình thường không được coi là vật.

Vật là tài sản không chỉ là những vật tồn tại hiện hữu mà còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắc chắn sẽ có. Điều 175 BLDS đã xác định loại tài sản này là: hoa lợi và lợi tức. Đây chính là sự gia tăng của tài sản trong nhũng điều kiện nhất định. Tương tự, tiền và những loại giấy tờ có giá cũng được xác định là những loại tài sản có tính chất đặc biệt.

Chúng ta cần phân biệt tài sản với khái niệm hàng hóa trong khoa học chính trị kinh tế học (là sản phản do con người tạo ra có giá trị và giá trị sử dụng). Giá trị của hàng hóa được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa đó. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên ỉà vật (tài sàn) nhưng không phải hàng hóa vì không gắn với lao động xã hội. Vì vậy, khái niệm tài sản có phạm vi ngoại diện rộng hơn khái niệm hàng hóa.

- Tài sản là quyền tài sản

Ngoài vật, tiền— tài sản còn được xác đinh là quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”

Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu nguời khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lại ích vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là quyền tài sản (vật quyền). Quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản.

Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản là quyền trị giá bằng tiền. Theo quy định này, Nhà lập pháp muốn nói tới quyền đối nhân, tức là quyền của một chủ thể đối với một chủ thể khác và quyền này trị giá bằng tiền. Vậy, theo quy định tài Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015, thì quyền tài sản là quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ có giá trị bằng một khoản tiền nhất định như trả nợ, bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu người khác chuyển giao giá trị của một vật. Ví dụ quyền yêu cầu thanh toán giá trị tài sản chung.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lỷ của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phạm vi tài sản với tính cách là khách thể của quyên sở hữu -là không hạn chế. Chúng bao gồm toàn bộ các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội. Nghĩa là quyền sở hữu có thể được xác lập với bất kỳ một loại tài sản nào, miễn là pháp luật không cấm lưu thông dân sự.

 

2.2 Phân loại tài sản

Tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không đăng ký quyền sở hữu

Căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò và ý nghĩa của tài sản đối với chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, quản lý nhà nước mà pháp luật có quy định về việc đăng ký quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất định

Tại Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2015 với quy định chung là “Đăng ký tài sản” cụ thể như sau: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.Việc đăng ký tài sản phải được công khai”. Việc quy định đăng ký tài sản không  chỉ  bó  hẹp  trong  phạm vi quyền sở hữu đối với tài sản mà còn bao gồm các quyền khác đối với tài sản.

Theo đó, quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác. Quyền khác đối với tài sản bao gồm: Quyền đối với bất động sản liền kề; Quyền hưởng dụng; Quyền bề mặt.  Để bảo đảm tính minh bạch, công khai, huy động và phát huy được hết các nguồn lực vật chất trong xã hội, các thông tin về tài sản đã đăng ký phải được công khai.

 

2.3 Tài sản gốc, hoa lợi, lợi tức

Căn cứ vào nguồn gốc và cách thưc hình thành tài sản mà tài sản có thể được phân thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức.

Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định.

Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như: con bê do con bò đẻ ra, hoa quả thu hoạch từ cây cối…Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải là do tài sản tự sinh ra như: tiền lãi, tiền thuê nhà… Như vậy, cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác, sử dụng tài sản gốc.

 

2.4 Bất động sản và động sản

Khái niệm bất động sản và động sản được quy định tại Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau: Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, tài sản khác theo quy định của pháp luật. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”.

Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, Bộ luật dân sự năm 2015 đã sự dụng phương pháp liệt kế để định nghĩa bất động sản. Căn cứ vào quy định này thì đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai như : nhà, công trình xây dựng , cây cối, tài nguyên….sẽ được coi là bất động sản. Còn động sản là những tài sản mà nó không thuộc là bất động sản. Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không.  Cách phân loại này là tiêu chí hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quy phạm điều chỉnh riêng đối với từng loại.

 

2.5 Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản  và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành: tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ  vào thời điểm xem xét ( thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch được giao kết ) nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong  tương lai. “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: Tài sản chưa hình thành. Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch” ( Khoản 2 Điều 108 Bộ luật dân sự năm 2015).

Những quy định về tài sản của Bộ luật dân sự năm 2015 có sự điều chỉnh vệ mặt thuật ngữ và kết cấu so với quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm của 2005 nhưng về mặt bản chất dường như được giữ nguyên. Sỡ dĩ có sự thay đổi này để phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành và bối cảnh xã hội, đồng thời nó cũng rõ ràng, chặt chẻ hơn tạo thuận lợi cho việc xác định và giải quyết trên thực tiễn.

Tóm lại: Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Khái niệm về tài sản cho đến hiện nay vẫn chỉ mang tính chất liệt kê, khái quát chưa mang tính tổng hợp tài sản. Tài sản được đề cập tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 là: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”

Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú  và đa dạng. Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phả có quy chế pháp lý điều chỉnh riêng. Chính vì vậy, việc phân loại tài sản là cần thiết không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động lập pháp mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Bộ luật dân sự năm 2015 dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tài sản. 

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.