Kính thưa quý khách hàng!
Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:
NỘI DUNG YÊU CẦU
Chào luật sư, Gần đây tôi có quen 1 người, anh ta giới thiệu anh là Phi công của Hãng Hàng Không Thái Lan. Sau thời gian nhắn tin nói chuyện, anh ta nói rằng sắp kết thúc hợp đồng 25 năm với công ty và anh ta sẽ đến Việt Nam ở. Anh ta muốn tôi làm người thụ hưởng quỹ hưu trí của ảnh với số tiền 4.8 triệu đô la Mỹ. Anh ta cần số chứng minh nhân dân, địa chỉ của tôi để cung cấp cho công ty làm tài liệu. Lúc đầu, anh ta không nói cho tôi biết tôi phải trả phí làm tài liệu gì cả. Sau 1 ngày, anh ta gửi tôi 1 hình ảnh là lá thư của Công ty Hàng Không Thái Lan chấp nhận tôi là người thụ hưởng tiền lương hưu của anh ta. Ảnh còn gửi tôi 1 địa chỉ email, nói rằng đó là luật sư của Hàng Không Thái Lan tôi hãy email với ông ấy để được hướng dẫn làm tài liệu nhận tiền.
Sau khi email với ông luật sư đó. Ông ta yêu cầu tôi phải trả trước 10,000 đô la Mỹ để ông ấy bay đến Tòa án Malaysia làm tài liệu cho tôi vì trụ sở chính là ở đây. Tôi nói không có tiền và ông ta nói tôi có thể trả trước 1 phần, số còn lại sẽ trả sau khi tôi nhận được tiền lương hưu. Tôi đã chuyển 3 lần tổng là 9,000 đô la, tôi đổi sang tiền VNĐ và chuyển vào TK mang tên người Việt Nam. Sau khi nhận tiền, ông ta gửi tôi 1 lá thư của Tòa Án Malaysia là tôi phải trả 25,000 đô la để mua 2 chứng chỉ chống rữa tiền và chống tài trợ khủng bố để có thể mang 4,8 triệu đô đến giao cho tôi mà không bị chính phủ VN nghi ngờ.
Tôi nói tôi không có đủ tiền, ông ta lại nói tôi hãy trả trước 1 ít và sẽ trả số còn lại khi nhận được tiền lương hưu. Tôi hỏi trả 2,000 đô la được không, ông ấy hứa rằng 2,000 đô la là lần thanh toán cuối cùng. Ông ấy sẽ hoàn thành tài liệu và đem tiền đến cho tôi. Ông ấy đưa tôi 1 TK khác cũng đứng tên người VN, tôi đã chuyển vào 2,000 đô la (cũng đối sang VNĐ để chuyển). Sau 2 ngày, ông ta xác nhận đã nhận được tiền nhưng 2,000 đô là quá ít không thể làm tài liệu, ông muốn tôi trả thêm 4,000 đô la.
Đến lúc này tôi mới nhận ra rằng tôi đang bị lừa đảo, tôi đã chuyển 11,000 đô la mà không thể hoàn thành tài liệu như ông luật sư đó hứa. Tôi nhờ Luật sư tư vấn giúp tôi thủ tục làm đơn tố cáo vụ việc lừa đảo qua mạng này. Hiện tại tôi đang làm việc ở Đồng Nai, nguyên quán tôi ở Trà Vinh, tôi sẽ nộp đơn tố cáo ở đâu ạ.
Mong Luật sư sớm phản hồi, cảm ơn Luật sư!
TRẢ LỜI:
1. Cơ sở pháp lý
Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hiện nay, vấn đề nhận quà, tiền, tài sản khác từ nước ngoài gửi về Việt Nam đang là vấn đề được rất nhiều người quan tâm và vướng mắc. Mỗi một trường hợp lại có những tình tiết, sự việc không giống nhau. Qua các thông tin Qúy khách cung cấp, hành vi của người bạn này có sự câu kết với người Việt Nam, lừa đảo tài sản của Qúy khách. Họ đưa ra các thông tin không đúng sự thật, nhằm chiếm đoạt tài sản của Qúy khách. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tại sản tại Việt Nam bị xử lý theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định:
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hiện tại sự việc của Qúy khách đã xảy ra, để bảo vệ quyền và lợi ích của Qúy khách. Qúy khách thực hiện tố cáo hành vi vi phạm trên đến cơ quan công an có thẩm quyền để được xác minh, điều tra.
3. Trình tự, thủ tục tố cáo
Quý khách có thể thực hiện tố giác theo các bước sau:
3.1. Thẩm quyền giải quyết
Việc xác định cơ quan Công an các cấp có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được quy định tại Điều 9 và Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan Công an tương ứng với thẩm quyền xét xử của Tòa án. Theo đó, chỉ có cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp quận, huyện, thị xã; cơ quan An ninh điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cơ quan An ninh điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có chức năng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Hiện tại, Qúy khách không xác định được nơi cư trú của người có hành vi phạm tội. Do đó, Qúy khách thực hiện tố cáo tại cơ quan công an nơi Qúy khách đang sinh sống và làm việc. Cụ thể, Qúy khách tố cáo đến cơ quan công an cấp quận/huyện/thành phố tại tỉnh Đồng Nai.
3.2. Hình thức tố cáo
Qúy khách tố giá về tội phạm có thể bằng các hình thức sau:
- Bằng miệng (trực tiếp đến trình báo hoặc tố giác, báo tin qua điện thoại tới cơ quan có thẩm quyền được xác định tại bước 1);
- Bằng văn bản (gửi trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính (bưu điện) tới cơ quan có thẩm quyền được xác định tại bước 1).
Khi tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố tới cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, cơ quan, tổ chức tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố cần cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu và trình bày rõ những hiểu biết của mình liên quan đến tội phạm mà mình tố giác, báo tin.
3.3. Theo dõi kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
- Khi hết thời hạn 03 ngày kể từ ngày tố giác mà Qúy khách chưa nhận được thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận thì Qúy khách có quyền yêu cầu cơ quan tiếp nhận thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tin báo về tội phạm, Cơ quan điều tra tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:
- Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trường hợp vụ việc bị tố giác có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.
Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.
Khi hết thời gian giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự mà chưa nhận được văn bản thông báo kết quả giải quyết thì Qúy khách có quyền đề nghị cơ quan tiếp nhận thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về “Tư vấn về hành vi lửa đảo chiếm đoạt tài sản”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng cảm ơn!
Bộ phận tư vấn Pháp luật - Công ty Luật TNHH Minh Khuê