1. Luật hình sự quy định thế nào về tội cho vay nặng lãi

Thế nào là hành vi cho vay nặng lãi ? Hành vi cho vay lãi cao khi nào thì bị truy tố trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hiện nay ? và các vấn đề liên quan sẽ được luật sư tư vấn cụ thể:

Luật hình sự quy định thế nào về tội cho vay nặng lãi

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

1. Hành vi cho vay nặng lãi:

Khoản 1, Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

" Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng".

- Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là "cho vay nặng lãi"..

- Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.

2. Tội cho vay nặng lãi:

Điều 163 Bộ luật Hình sự quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 Bộ Luật Dân sự về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi. Ví dụ: Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất cao nhất đối với cho vay tiền Việt Nam (đồng) kỳ hạn 3 tháng là 1%/tháng, lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận là 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 1,5%/tháng thì hành vi cho vay tiền (VN Đồng) kỳ hạn 3 tháng với mức lãi trên 15%/tháng (gấp từ 10 lần mức lãi suất tối đa pháp luật cho phép trở lên) sẽ bị coi là cho vay lãi nặng.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Trên đây là quy định của pháp luật về cho vay nặng lãi và tội cho vay nặng lãi.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng

2. Công ty tài chính cho vay nặng lãi có phải trả tiền không ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về vấn đề thực hiện nghĩa vụ trả tiền và các vấn đề liên quan.

Công ty tài chính cho vay nặng lãi có phải trả tiền không ?

Tư vấn nghĩa vụ trả nợ khi vay nặng lãi (lãi cao), gọi ngay: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 290. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội) quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có vay 21tr của Công ty tài chính FC lãi xuất 4.58% , Vay trong 30 tháng 1 tháng 1.340.000. Vậy thưa Luật Sư lãi suất như vậy có đc gọi là nặng lãi không ạ ?

=> Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng.

Vậy việc công ty tài chính cho bạn vay với lãi suất 4.58% là vượt quá lãi suất quy định nhưng chưa đủ yếu tố để cấu thành tội cho vay nặng lãi. Lúc này công ty tài chính sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi vay lãi của một hiệu cầm đồ với số lãi 5000₫/1tr/1ngày . Xin hỏi với số lãi như vậy thì người cho vay có vi phạm pháp luật không ạ !

=> Lãi suất 5.000/1 triệu/1 ngày tương đương lãi suất là 0,5%/ngày mà lãi suất quy định là 0,0375%/ngày. Vậy hiệu cầm đồ này đã phạm tội cho vay nặng lãi. Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có vay 3 triệu từ công ty tài chính VAP với khoản vay này công ty nói em sẽ trả lãi suất rất thấp tuy nhiên đến hạn thanh toán công ty yêu cầu em thanh toán 3 triệu 450 nghìn đồng trong 15 ngày. Vậy em phải làm sao? khi công ty đe dọa sẽ đến công ty em làm cho e mất thể diện nếu không thanh toán đúng hẹn.

=> Vì bạn không nói rõ thời điểm bạn vậy và hạn thanh toán là bao lâu nên chúng tôi không thể xác định được lãi suất là 450.000 là bình thường hay vượt quá lãi suất quy định. Lúc này đã đến hạn thanh toán mà bạn không có khả năng trả tiền cho công ty tài chính thì bạn đã vi phạm hợp đồng. Vậy bạn phải chịu trách nhiệm trong trường hợp này.

Thưa luật sư, Cho em hỏi: Ngày 07/3/2016 chồng em có mua 1 điện thoại trả góp tại thế giới di động, đã trả được 2 tháng, nhưng mới trả được 2 tháng thì bị bắt và đang tạm giam chờ xử, nay bên ngân hàng cho vay trả góp họ đến nhà đòi và nói sẽ đâm đơn khởi kiện. Em đang rất hoang mang vì thật sự em k có khả năng để trả thay chồng khoản nợ này. Vậy luật sư cho em hỏi là chồng em đang bị bắt như thế thì liệu có bị kiện và phải chịu thêm án ( án chồng án ) nữa k ạ.

=> Trường hợp này bạn có thể xin giấy xác nhận của cơ sở tạm giam về việc chồng bạn đang bị tạm giam và không có khả năng trả nợ. Lúc này bạn làm đơn xin tạm ngưng việc thực hiện hợp đồng vì chồng bạn có lý do chính đáng không thể trả tiền đúng hẹn được.

Nếu chồng bạn không trình bày được lý do chính đáng mà đến thời hạn trả nợ không thanh toán thì chồng bạn có thể bị khởi kiện vì không thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi cho một người bạn vậy tiên ngữoi đó tự trả lãi cho tôi là một triệu là một trăm ngàn đồng trên tháng. Nhưng này người đó đã bỏ trốn vậy nếu tôi đưa ra toà thì tôi có vi phạm pháp luật không và bị xử phạt như thế nào?

=> Lúc này nếu bạn yêu cầu người đó trả lãi với lãi suất vượt quá 1,125%/tháng thì bạn vi phạm pháp luật. Còn ở trường hợp này là người đó tự nguyện trả tiền cho bạn. Bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan công an hoặc làm đơn khởi kiện lên Tòa án về việc người này có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì người đó đã bỏ trốn. Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông A có vay ngân hàng một số tiền 100 triệu đồng theo thẻ tín dụng hình thức tín chấp từ năm 2013.Do làm ăn không thuận lợi đến nay ông A chưa trả hết số tiền trên cho ngân hàng. Vậy ngân hàng có khởi kiện ông A theo pháp luật được không? Nếu ngân hàng khởi kiện thì ông A có thể bị những hình thức xử phạt nào?

=> Ngân hàng có thể khởi kiện ông A được vì đã đến thời hạn trả nợ mà ông A không trả tức là ông A đã vi phạm hợp đồng.

Khi ngân hàng khởi kiện thì ông A có thể sẽ bị cưỡng chế thi hành án trong 1 khoản thời gian nhất định, khấu trừ thu nhập hàng tháng để trả tiền cho ngân hàng hoặc ông A sẽ bị kê biên tài sản để trả tiền.

Trường hợp ông A có dấu hiệu của việc bỏ trốn, lừa đảo, thay đổi địa chỉ, số điện thoại mà không cho ngân hàng biết,... thì ông A còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Cho vay với lãi suất bao nhiêu thì phạm phải tội cho vay nặng lãi ?

Luật Minh Khuê, xin tư vấn và hỗ trợ khách hàng về mức lãi suất cao nhất mà pháp luật cho phép thỏa thuận, vượt quá bao nhiêu thì được coi là cho vay nặng lãi:

Cho vay với lãi suất bao nhiêu thì phạm phải tội cho vay nặng lãi ?

Tư vấn về mức lãi suất đối với hợp đồng cho vay, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư với bạn như sau;

Tội cho vay nặng lãi được quy định theo Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

" Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo đó cấu thành tội cho vay nặng lãi là lãi suất cho vay phải cao hơn 10 lần so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật cho phép.

Mức lãi xuất cao nhất mà pháp luật cho phép được quy đinh như sau:

" Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Do đó mức lãi suất cao nhất mà các bên được thỏa thuận là không được vượt quá 150% mức suất cao nhất mà ngân hàng nhà nước công bố. Về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm . Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Theo đó một người được xác định là cho vay nặng lãi khi quy định mức lãi suất cao hơn gấp 10 lần của 1,125%/tháng và mang tính chất bóc lột.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn hỏi cho vay 2nghin/1trieu/1ngay có phải là cho vay nặng lãi không? Cảm ơn!

=> Bạn không cung cấp cụ thể số tiền vay của mình là bao nhiêu nên trong trường hợp này, bên mình chưa xác định được số tiền lãi của bên mình một tháng là bao nhiêu, bạn có thể tính lãi suất một tháng của mình và căn cứ vào quy định trên để xác định mức lãi suất của mình có phải là cho vay nặng lãi không.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bên A có vay bên B khoản tiền là 280 triệu đồng thời hạn trong vòng 1 năm. Số tiền lãi hàng tháng bên A phải trả là 10 triệu đồng/ tháng. Trong một năm qua bên A vẫn chi trả tiền lãi hằng tháng cho bên B với tổng số tiền lãi là 120 triệu/ năm. Vậy đó có phải là cho vay nặng lãi không và mức hình phạt nặng hay nhẹ ? Cảm ơn!

=> Theo thông tin bạn cung cấp thì lãi suất của bạn được xác định là 3,57%/ tháng cao gấp 3 lần so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật cho phép, do đo trong tường hợp này không phải là hco vay nặng lãi.

Thưa luật sư, ho em hỏi em cho ban vay 100000000 triệu đồng mỗi tháng trả 150 000 nghìn ,có phải vay nặng lãi không ?

=> Theo số liệu của bạn cung cấp thì lãi suất của bạn là 0,15%/tháng như vậy không phải là cho vay nặng lãi.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định của luật hình sự ?

Luật Minh Khuê, xin tư vấn cho khách hàng về cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định của pháp luật hình sự như sau:

Cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định của luật hình sự ?

Tư vấn về cấp hành tội cho vay nặng lãi - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào thông tin ban cung cấp xin tư vấn với bạn như sau:

Tội cho vay nặng lãi được Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định như sau:

" Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo đó cấu thành tội cho vay nặng lãi là lãi suất cho vay phải cao hơn 10 lần so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật cho phép.

Mức lãi xuất cao nhất mà pháp luật cho phép được quy đinh như sau:

" Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Do đó mức lãi suất cao nhất mà các bên được thỏa thuận là không được vượt quá 150% mức suất cao nhất mà ngân hàng nhà nước công bố. Về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm . Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Theo đó một người được xác định là cho vay nặng lãi khi quy định mức lãi suất cao hơn gấp 10 lần của 1,125%/tháng và mang tính chất bóc lột.

Kính gửi luật sư, ngày 3/11/2014 em có ký kết hđ vay vốn với tổ chức tc vay 50tr với lãi suất 32%/năm, như vậy có vi phạm là cho vay nặng lãi không ạ. Hiện tại gia đình em không còn khả năng chi trả nữa mà họ lúc nào cũng thúc ép khiến gia đình em luôn gây vào cảnh lục đục do ko có tiền trả ? Rất mong luật sư tư vấn giúp em. Em xin trân trọng cám ơn.

=> Trường hợp này lãi suất của bạn là 32%/năm, do đó trong trường hơp này chưa được xác định là cho vay nặng lãi

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi tôi cho cô bạn vay với số tiền 35.000.000 tr lãi xuất 8% 1 tháng vậy có bị truy tố cho vay nặng lãi không ?mà giờ cô này trốn đi bây giờ tôi muốn thưa cô này phải làm như thế nào ?mà tất cả 10 người đều không có chứng cứ ? Tôi xin chân thành cảm ơn !

=> Mức lãi 8%/tháng thì chưa cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định ở trên. Trường hợp này nếu đã đến thời hạn trả nợ mà bên kia không thanh toán cho bạn thì bạn có thể viết đơn khởi kiện bên đó ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú. Trường hợp này bạn phải có giấy tờ chứng minh được rằng bên kia có vay tiền của chị thì bạn mới có thể khởi kiện họ được. Bằng chứng ở đây thì có thể là giấy vay nợ không nhất thiết phải có công chứng nhưng phải có chữ kỹ của hai bên. Trường hợp không có viết giấy vay nợ thì bạn có thể cung cấp băng ghi âm về việc giao dịch, trường hợp không có các bằng chứng trên thì bạn có thể nhờ người làm chứng nếu họ biết về toàn bộ quá trình giao dịch.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có vay số tiền 100 triệu đồng mà mỗi tháng phải đóng 10 triệu tiền lãi. Em đóng lãi hơn một năm, nhưng vì lãi suất cao quá, và công việc làm ăn khó khăn, em không có khả năng đóng lãi và trả tiền góc cho người ta. Họ nói nếu em không trả họ sẽ khởi kiện, và họ có đe doạ em. Vậy xin luật sư vui lòng tư vấn giúp em, nếu bị khởi kiện thì em phạm tội gì, và mức xử phạt có nặng không? Xin luật sư tư vấn giúp em.Em chân thành cảm ơn

=> Trường hợp của bạn tính ra thì mức lãi suất là 10%/tháng, do đó cũng chưa vượt quá 10 lần mức lãi suất cao nhất mà nhà nước cho phép, do đó bạn chưa phạm phải tội cho vay nặng lãi, tuy nhiên thì bạn cũng phải chịu trách nhiệm xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp sau:

Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.

Do đó bạn cho vay với mức lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố, nên bạn bị xử lý vi phạm hành chính với mức phạt được quy định như ở trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Tìm hiểu quy định của pháp luật về việc cho vay nặng lãi, lãi suất, lãi quá hạn ?

Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp quy định của pháp luật về việc cho vay nặng lãi, mức lãi suất và lãi quá hạn để quý khách hàng tham khảo và áp dụng:

Tìm hiểu quy định của pháp luật về việc cho vay nặng lãi, lãi suất, lãi quá hạn ?

Tư vấn quy định pháp luật về cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng.

Thưa luật sư, xin hỏi: cuối tháng 11/2015 cháu có vay của bên Công ty tài chính Homcredit 15 triệu hạn trả trong 24 tháng , lãi suất 1.355.000/ 1 tháng cháu đã trả được 3 tháng nay do kinh tế khó khăn , vì cháu bị ốm và công việc cũng không đều , Nếu không trả kịp hay không trả thì có bị ra tòa không ạ. Cháu nghĩ bên Công ty Homcredit đã vi phạm luật ngân hàng là cho vay lãi quá quy định.
Thưa Luật Sư, em có vay tín chấp bên phía ngân hàng là 20.000.000đ cộng với bảo hiểm là 2.000.000đ . Hằng tháng em đóng số tiền 2.262.000đ kéo dài đến 18t . Em đã đóng đc 12 kỳ. Và cho đến giờ vì quá khó khăn nên em không đóng đc. Vậy số tiền trên bên ngân hàng có cho vay lãi suất vượt mức quy định không ? Và em có bị truy tố hình sự không.?

=> Trường hợp ngân hàng tính lãi cho bạn là 1.355.000/tháng là vượt mức quy định. Còn vấn đề hàng tháng bạn đóng số tiền 2.262.000đ thì bạn không trình bày cho chúng tôi riêng phần lãi là bao nhiêu ên chúng tôi không biết có vượt mưc quy định không.

Nếu không trả kịp bạn sẽ bị kê biên tài sản để trả nợ và phần lãi quá mức quy định sẽ được bù vào số tiền còn thiếu.

Thưa luật sư, xin hỏi: Ngày 09/2/2015 chồng tôi cầm sổ đỏ nhà đất và vay vốn ở ngân hàng dầu khí GPBANK 500 triệu 6 tháng đầu chồng tôi luôn trả lãi đúng ngày. Nhưng do làm ăn thua lỗ nên 6 tháng sau và tới nay là 3 tháng quá hạn. Chồng tôi không có khả năng trả cả gốc và lãi cho ngân hàng. Vậy luật sư cho tôi hỏi ngân hàng có thu ngôi nhà của vợ chồng tôi không. Và giờ tôi phải làm thế nào để tốt nhất cho gia đình mình.

=> Nếu ngân hàng khởi kiện bạn có thể bị kê biên tài sản. Lúc này bạn nên làm thủ tục gia hạn nợ với ngân hàng để ngân hàng xem xét và kéo dài thời gian trả nợ cho gia đình bạn.

Thưa luật sư, Em muốn làm giấy phép kinh doanh, cho vay lãi và cầm đồ ,mà không biết gì về thủ tục em nho anh chị chỉ bảo giúp.

=> Bạn có thể mở hộ kinh doanh, tham khảo về việc đăng kí kinh doanh tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP.

Thưa luật sư, em trai cuả em vay lãi ngay 10 triêu lãi xuất la 40000₫/1ngay thế đã mang tính chất nặng lãi chưa?
Thưa Luật sư! Tôi có cho người hàng xóm vay 100 triệu đồng với lãi suất 5% / tháng. Và tiền lãi sẽ được cộng vào tiền gốc nếu hàng tháng không thanh toán lãi. Khi cho vay, tôi có làm hợp đồng và có chữ ký của hai bên. Cho tới nay đã 2 năm mà ngừơi đó vẫn không trả cả lãi và gốc. Tôi xin hỏi, trường hợp của tôi có vi phạm pháp luật không. Và nếu khơỉ kiện thì tôi có được hoàn trả cả tiền gốc và tiền lãi không? Nếu tôi khơỉ kiện thì thủ tục cần những gì, và lệ phí là bao nhiêu? Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thưa Luật sư, Hiện em làm công ty bình thường. Em có cho bạn vay với số tiền gần 100 triệu nhưng không giấy tờ. Và chia làm nhiều lần số tiền giờ gần 100 triệu. Em cho vay vì là bạn bè làm ăn lâu rùi. Tất cả thủ tục vay đều qua điện thoại và tin nhắn. Lãi suất thì tùy đợt nhưng cũng cao hơn nhiều so với nhà nước quy định. Lãi từ 5.000/ngày/1 triệu đến 7.000/ngày/1 triệu. Đến giờ bạn em không chịu trả. Mà có ý khởi kiện em cho vay lãi cao. Luật sư cho em hỏi trường hợp của em thì em bị kiện không khi không có giấy tờ vay. Và em muốn đòi thì làm sao ạ?
Thưa Luật sư, Gia đình tôi có cho 1 người bạn vay tổng 700 triệu đồng năm 2012, trong giấy ghi nợ không ghi lãi suất mà chỉ thỏa thuận miệng là 1%/tháng. Cuối năm mới lấy lãi 1 lần. Năm 2013 gia đình người bạn có trả lãi. Nhưng tới năm 2014 gia đình có xích mích nên không trả tiền và lãi cho gia đình tôi. Khi ra tòa xử thì tòa xử trả gốc 700 triệu đồng nhưng không tính lãi suất. Vậy tôi xin hỏi quý công ty, trong trường hợp này thỏa thuận lãi bằng miệng có được tính không?

=> Các trường hợp cho vay quá 1,125%/tháng đều là hành vi cho vay qua mức lãi suất quy định. Việc khởi kiện tuy không có giấy tờ nhưung nếu có bằng chứng khác chứng minh việc cho vay thì có thể khởi kiện được. Lúc này bên nợ có thể bị kê biên tài sản, còn bên cho vay có thể bị xử phạt vi phạm hành chính vì cho vay quá mức quy định.

Thưa Luật sư, Em vay vốn ngân hàng và vay lãi ngày để mở quầy thuốc tư nhân liệu có phải nộp thuế. Mỗi tháng em vẫn phải trả gần 10triệu/100triệu tiền vay nóng và 1triệu/100triệu tiền vay ngân hàng.nhà em có nuôi 1mẹ già và 2con nhỏ dưới 5 tuổi

=> Bạn hoạt động kinh doanh có phát sinh lợi nhuận nên bạn phải nộp thuế.

Chào luật sư, cho cháu hỏi trước đây bác của cháu do chơi cờ bạc lên đã mang sổ đỏ của gia đình đi vay lãi của người ta gia đình không biết bây giờ bac cháu đã qua đời . Người cho vay đến gia đình đòi tiền gia .gia đình nhà bác của cháu không trả họ nhờ tòa án huyện giải quyết .giấy sác nhận vay tiền không có chữ ký của vợ và các con của bác cháu.vậy cho cháu hỏi theo pháp luật thì việc này giải quyết như thế nào .cháu xin cảm ơn

=> Vì bác bạn đã mất nên Tòa án sẽ kê biên tài sản của bác bạn để trả nợ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Quy định của pháp luật về hành vi cho vay nặng lãi ?

Cho vay nặng lãi là hành vi cho vay với mức lãi suất cao hơn 1,5 lần mức lãi suất của ngân hàng. Trong nhiều trường hợp mức lãi suất cho vay trên thị trường có thể cao hơn 5-10-15 lần mức lãi của ngân hàng. Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp một số trường hợp về hành vi cho vay nặng lãi:

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 163 , việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, quẫn bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất “chuyên bóc lột” của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: Người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và tiền thu được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính của mình.

Như vậy, lãi suất mà người đó tính với bạn là: 4000 x 30 x 12 = 1,44 triệu/1 triệu/ 1 năm hay nói cách khác mức lãi suất mà người cho vay áp fungj là 14,4%/năm, bạn có thể tra cứu lãi suất cho vay cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm hợp đồng vay tiền (khế ước vay tiền) có hiệu lực, có thể là thời điểm ký kết hợp đồng hoặc thời điểm trao tiền/tài sản, sau đó đối chiếu với cách tính lãi suất như trên để nhận định người cho vay có dấu hiệu hình sự của “Tội cho vay nặng lãi” hay không.

Thưa luật sư, tôi có đi vay nặng lãi của cty chuyên cho vay tiền.khi đến vay.người ta đưa tôi 1 mẫu đơn là cty đó dưa tiền nhờ tôi mua xe hộ.nhưng thực chất là vay lai 5n/triệu/ngày.tôi đã trả và còn nợ 10 triệu nữa.hiện tại tôi chưa có tiền mà ngươi đó báo công an thi tôi sẽ bị làm sao.mong luật sư giải đáp cho tôi.tôi xin cảm ơn

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 140 Luật hình sự quy định:

Tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về Hợp đồng vay tài sản như sau:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Ngoài ra, tại Điều 474 Bộ luật dân sự quy định Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
…”


Theo quy định trên, bên vay sẽ có nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Khi bên vay không có khả năng thanh toán nợ thì bên vay có quyền gửi đơn khởi kiện về việc đòi lại tài sản đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để được giải quyết.

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.".

Vì vậy, để tránh trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này, bạn không nên bỏ trốn, trong trường hợp bạn chưa có khả năng trả nợ bạn cần thỏa thuận lại với bên cho vay. Nếu từ hợp đồng vay này sau đó bạn có hành vi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản này thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Xin chào luật sư. Chị của em có vay mượn của người ta một số tiền hơn 5 tỷ.Trong lúc vay mượn chị của em có viết giấy cho người ta và trong giấy chị viết là mượn để đáo hạn ngân hàng nhưng thật chất là chị mượn để đóng tiền lãi cho những người cho vay nặng lãi và đóng lãi cho cả người cho vay. Giờ chị em không có khả năng trả nợ nhưng số tiền mà chị đóng lãi cho người cho vay gần bằng với số vốn. Vậy luật sư cho em hỏi như vậy chị của em có bị ghép vào tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không.rồi số tiền lãi mà chị đóng cho người ta gần bằng với số vốn thì như thế nào. Rất mong được sự giúp đỡ của luật sư. Xin chân thành cảm ơn.

=> Theo Điểm b, khoản 1 Điều 140 thì chị bạn sẽ phạm tội lợi dụng chiếm đoạt tài sản khi sử dụng số tiền vay đó vào mục đích bất hợp pháp. Như vậy, chỉ các trường hợp người nhận được tài sản đã sử dụng tài sản đó vào “mục đích bất hợp pháp”, như: buôn lậu, mua bán ma túy, đánh bạc,… dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, mới bị coi là phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Còn đối với các trường hợp vay, mượn tiền với số lượng lớn, sau đó sử dụng vào việc trả nợ thì không thể bị truy cứu trách nhiệm về tôi Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về Hợp đồng vay tài sản như sau:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Ngoài ra, tại Điều 474 Bộ luật dân sự quy định Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.…”

Theo quy định trên, bên vay sẽ có nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Khi bên vay không có khả năng thanh toán nợ thì bên vay có quyền gửi đơn khởi kiện về việc đòi lại tài sản đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để được giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Tôi có cho người quen vay 30 triệu VNDvới lãi suất 8%/1 tháng. Tôi có làm hợp đồng vay tiền và thời gian trả là 3tháng theo thỏa thuận và có giữ 1 chứng minh nhân dân phô tô của người đó.Nhưng hiện nay đã hết hợp đồng người đó không có khả năng chi trả, tôi muốn nhờ pháp luật can thiệp nhưng bản thân sợ mình vi phạm việc cho vay nặng lãi. Xin hỏi luật sư tôi cho vay như vậy có phạm tội không và có thể thắng kiện không? Xin cảm ơn.

=> Theo quy định tại Điều 163 , việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, quẫn bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất “chuyên bóc lột” của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: Người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và tiền thu được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính của mình.

Như vậy, lãi suất mà bạn tính là 8%/tháng tức là 14,4%/năm, bạn có thể tra cứu lãi suất cho vay cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm hợp đồng vay tiền (khế ước vay tiền) có hiệu lực, có thể là thời điểm ký kết hợp đồng hoặc thời điểm trao tiền/tài sản, sau đó đối chiếu với cách tính lãi suất như trên để nhận định người cho vay có dấu hiệu hình sự của “Tội cho vay nặng lãi” hay không.

Theo dấu hiệu thứ hai tức là bạn không có tính chất chuyên bóc lột. Như vậy, nếu bạn không có đủ 2 dấu hiệu trên thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi.


Theo quy định trên, bên vay sẽ có nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Khi bên vay không có khả năng thanh toán nợ thì anh có quyền gửi đơn khởi kiện về việc đòi lại tài sản đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để được giải quyết.

Chào luật sư. Hiện tại là tôi có vay nặng lãi của xã hội đen,các khoản vay ngân hàng khác vào gần 4 tỷ. Nhưng hiện nay tôi không có khả năng chi trả nữa,cũng không có bất kì một tài sản có giá trị nào. Theo giấy khi vay thì không nói là vay nặng lãi, và bây giờ tôi phải bỏ đi nơi khác vì không còn khả năng trả nợ. Họ nói sẽ kiện tôi ra toà. Tôi muốn hỏi rằng nếu bị kiện theo tội của mình tôi sẽ phải chịu mức án như thế nào? Trả lời gấp giúp tôi. Xin cảm ơn Đã gửi từ iPhone của tôi

=> Khoản 1, Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng".

- Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là "cho vay nặng lãi".

- Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Điều 163 Bộ luật Hình sự quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 Bộ Luật Dân sự về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi. Ví dụ: Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất cao nhất đối với cho vay tiền Việt Nam (đồng) kỳ hạn 3 tháng là 1%/tháng, lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận là 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 1,5%/tháng thì hành vi cho vay tiền (VN Đồng) kỳ hạn 3 tháng với mức lãi trên 15%/tháng (gấp từ 10 lần mức lãi suất tối đa pháp luật cho phép trở lên) sẽ bị coi là cho vay lãi nặng.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Như vậy, khi kiện ra tòa thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Kính chào luật sư, tôi xin hỏi luật sư một câu hỏi: nếu một người cho vay tiền nóng với mức tiền lãi, một triệu một ngày năm nghìn, không giới hạn ngày trả cụ thể nhưng trong vòng một tháng phải trả tiền gốc và tiền lãi, nếu không trả được luôn thì tiếp tục tính lãi như ban đầu còn không lấy tiền lãi chưa trả được để tính vào tiền gốc. Người cho vay cũng chỉ giới hạn cho một người vay tầm năm triệu đồng. Vậy tôi xin hỏi luật sư cho vay tiền như vậy có cấu thành tội cho vay nặng lãi không? tôi xin cám ơn luật sư!

>> Khoản 1, Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: " Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng".

- Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là "cho vay nặng lãi".

- Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Điều 163 Bộ luật Hình sự quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 Bộ Luật Dân sự về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi. Ví dụ: Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất cao nhất đối với cho vay tiền Việt Nam (đồng) kỳ hạn 3 tháng là 1%/tháng, lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận là 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 1,5%/tháng thì hành vi cho vay tiền (VN Đồng) kỳ hạn 3 tháng với mức lãi trên 15%/tháng (gấp từ 10 lần mức lãi suất tối đa pháp luật cho phép trở lên) sẽ bị coi là cho vay lãi nặng.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Như vậy, khi kiện ra tòa thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Bộ phận Tư vấn Luật.

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật công ty Luật Minh Khuê.