Rất nhiều lần bắt gặp như có cuộc điện thoại hoặc giấy tờ của người đàn ông kia có lưu lại ở chỗ vợ của mình. Người vợ có thừa nhận và xin tha thứ. Nhưng tới năm 2013 người vợ lại tiếp tục lén lút qua lại với người đàn ông đó và tìm cách ra ngoài ở riêng. Từ thời gian đó tới nay anh tôi và chị này sống li thân. Chị này công khai qua lại với người đàn ông kia với danh nghĩa là một tên tuổi khác. Hiện nay chị ta đang có kế hoạch kết hôn với người đàn ông kia ( tất nhiên là với tên tuổi khác ) và giấu diếm phía gia đình chúng tôi cũng như những người có quen biết giữa gia đình chúng tôi và chị ta. Sở dĩ chúng tôi biết được sự việc chị ta có mối quan hệ với người đàn ông khác là vì theo dõi qua mạng xã hội facebook. Chúng tôi không có bằng chứng sát thực nhưng có được hình ảnh họ thường xuyên tải lên. Vậy tôi muốn hỏi những vấn đề sau:

1. Anh của tôi muốn xử li hôn và gửi đơn li hôn ra tòa án nhưng người phụ nữ kia không chịu ký đơn li hôn. Anh tôi muốn xử li hôn và giành quyền nuôi con thì có cách nào để giành được quyền? vì tôi thấy tòa thường xử cho người mẹ được quyền nuôi con. Nhưng từ 2013 tới nay chị ta chưa hề về thăm con và trợ cấp nuôi con.

2. Vì người chị ta có kế hoạch kết hôn là người làm việc trong ngành Công An. ( Chúng tôi đặt nghi vấn tại sao chị ta có thể kết hôn với người ở trong ngành CA với danh tính khác, tình trạng hôn nhân chưa xử lí li hôn.)

3. Nếu chị ta giả mạo danh tính của người khác vậy có bị xử lý trước pháp luật hay không?

Rất cảm ơn sự quan tâm của Qúi Công Ty! 

Người gửi:N.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân và gia đình của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn luật hôn nhân và giả mạo danh tính?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi:1900.6162

Trả lời:

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

Chào bạn!cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty luật Minh Khuê,với thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Nội dung tư vấn:

1.Vấn đề 1

Thủ tục Ly hôn đơn phương (ly hôn theo yêu cầu một bên)

Khi mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không chia sẻ được với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét cho ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng.

Nếu không đồng thuận tất cả các vấn đề liên quan (quan hệ vợ chồng, quyền nuôi con, cấp dưỡng, tài sản) thì thực hiện theo thủ tục ly hôn đơn phương, Tòa án sẽ tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

Ly hôn đơn phương là việc ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ/chồng, tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc nhờ người đi lấy hộ chiếu bị giữ giấy tờ ?

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy với thông tin bạn cung cấp thì cuộc sống hôn nhân giữa bạn và vợ bạn có mâu thuẫn trầm trong mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài nếu bạn muốn ly hôn thì trước hết bạn phải gửi đơn ly hôn đến Tòa án tại nới hai người đang sinh sống để xin giải quyết ly hôn.

Thứ hai, về đơn phương xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con thì căn cứ theo Điều 58 và điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

>> Xem thêm:  Luật sư hướng dẫn giải quyết tranh chấp di sản thừa kề ?

Như vậy theo quy định tại điều luật trên thì hai vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận về việc ngừơi trực tiếp nuối con nếu không thỏa thuân được thì để được ly hôn và có quyền nuôi con, trong đơn xin ly hôn bạn phải đưa ra lý do xin ly hôn chính đáng xác thực về tình trạng hôn nhân thực tại của hai vợ chồng và bạn phải đưa ra đề nghị được nuôi con.Tòa án tại sẽ thụ lí đơn và giải quyết cho bạn.

2.Vấn đề 2

Vấn đề thắc mắc của bạn tôi xin giải đáp như sau .Theo luật hôn nhân và gia đình và quy định nội bộ trong nghành công an thì một ngừoi thì việc người phụ nữ  muốn kết hôn với người yêu làm công an, cần phải đáp ứng được đầy đủ các quy định sau:
Thứ nhất là luật Hôn nhân và Gia đình
Thứ hai là quy định nội bộ trong ngành công an
Về Luật Hôn nhân và Gia đình, phải có các điều kiện sau:
Những hành vi bị cấm (Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014)
2. Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

>> Xem thêm:  Quy định về giám định chữ ký ?

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.
4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

>> Xem thêm:  Mạo chữ ký, làm giả di chúc thì bị xử lý như thế nào ?

Điều kiện kết hôn (Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014)
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính
Nếu bạn đạt đủ tiểu chuẩn trên thì bạn có quyền kết hôn hợp pháp theo quy định pháp luật.
Về quy định trong nội bộ nghành công an
Vì ngành công an có đặc thù riêng, phải tuân thủ những nguyên tắc hoạt động quy định tại Điều 5 Luật Công an nhân dân nước CHXHCNVN (sửa đổi, bổ sung năm 2008) là:
"1. Công an nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an.
2. Công an nhân dân được tổ chức tập trung, thống nhất và theo cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở.
3. Hoạt động của Công an nhân dân phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; cấp dưới phục tùng cấp trên; dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân."
Mà theo quy định của ngành công an nhân dân, mỗi cán bộ chiến sĩ khi xây dựng gia đình phải có lập trường, tư tưởng vững vàng, xác định tương lai hạnh phúc của mình thật sự chín chắn để quyết định đi đến hôn nhân. Nếu đã xác định lập trường tư tưởng thì mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tự viết đơn xin tìm hiểu gia đình, viết hai đơn, một đơn nộp cho đơn vị công tác, một đơn nộp cho Phòng tổ chức cán bộ. Thời gian tìm hiểu từ ba đến sáu tháng, tùy thuộc vào mức độ tình cảm của hai bên.
Qua thời gian tìm hiểu và quyết định đi đến hôn nhân thì bản thân phải tự viết đơn xin xây dựng gia đình như trình tự trên. Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân phải động viên người bạn đời của mình kê khai lý lịch cho thật đầy đủ. Trong lý lịch phải khai cả ba đời; quá trình hoạt động của ba đời trước và sau năm 1975; có ai theo "chế độ cũ" không? Có thân nhân xuất cảnh không? Có theo tôn giáo nào không?...
Phòng Tổ chức cán bộ sẽ thẩm tra, xác minh người sẽ dự định cưới và tất cả những người thân trong gia đình tại nơi sinh sống và nơi làm việc. Thời gian thẩm tra, xác minh từ 2 đến 4 tháng, nếu không có gì trở ngại thì Phòng Tổ chức cán bộ sẽ gửi Thông báo cho phép xây dựng gia đình đến đơn vị công tác, lúc đó các bên mới tiến hành đăng ký kết hôn và tổ chức cưới.
Trường hợp lý lịch không phù hợp thì Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân chỉ có 2 con đường lựa chọn:
- Sự nghiệp
- Tình yêu
Như vậy căn cứ vào các điều trên thì người chị bạn nếu lấy người công an với danh tính như cũ thì đã vi phạm vào điều cấm các hành vi kết hôn tại điều 5 luật hôn nhân gia đình thì sẽ không lấy được do đó người chị đó đã giả mạo danh tính nhằm mục đích che dấu sự thật có 1 lý lịch về bản thân khác và tốt hơn để có thể đủ điều kiện lấy người làm công an đó.
3.Vấn đề 3
Tội giả mạo danh tính để lấy chồng là tội phạm xâm phạm đến một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình là nguyên tắc một vợ một chông được quy định cụ thể tại điều 147 bộ luật hình sự năm 2009 sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Theo quy định tại điều này thì người chị của bạn là người đã có chồng có con và chung sống với anh bạn mà lại đi kết hôn với người chưa có vợ nếu đã gây hậu quả nghiêm trọng là hậu quả gây ra cho hạnh phúc gia đình của hôn nhân trước như làm cho gia đình tan vỡ dẫn đến ly hôn hoặc dẫn đến việc tự sát của vợ hoặc chồng hoặc con của người phạm tội, dẫn đến việc vi phạm pháp luật khác do ghen như cố ý gây thương tích và hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng tiếp tục thực hiện sau khi đã có quyết định xử phạt hành chính về tội này thì hành vi này bị coi là thực hiện tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng mà không phụ thuộc vào việc người vợ hoặc người chồng trong hôn nhân trước có đồng ý hay không đồng ý cũng như người vợ hoặc người chồng trong hôn nhân sau biết hay không biết bên kia đang có chồng, có vợ thì chị bạn có thể bị xử phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm; hoặc phải chịu mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với trường hợp có tình tiết: “đã có quyết định của Tòa án tuyên hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó

 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hôn nhân.