1. Tư vấn thừa kế đất đai khi bản di chúc bị hủy ?

Xin chào luật sư ! Tôi xin trình bày hoàn cảnh sau... Ông bà nội tôi sinh được 4 người con , bố tôi là cả. Cô đã đi lấy chồng lâu và yên ổn gia đình. Chú thứ 3 ở riêng nhưng sống chung với ông bà trên cùng mảnh đất. Chú thứ 4 cũng lấy vợ và ông bà đã mua cho 1 mảnh đất xây nhà và ở đó. Bố tôi là con trưởng ra ở riêng đã lâu cạnh nhà ông bà. Ông tôi đã mất được 1 năm nay.

Trước khi ông mất có để lại di chúc cho bố tôi 1 nửa mảnh đất để thờ cúng ông bà nhưng bây giờ không biết ai xé mất di chúc (vì bố tôi không được giữ). Bây giờ bà bảo không chia cho gia đình tôi tý đất nào. Và cho chú thứ 3 tất cả . Mà anh em muốn cô lập bố mẹ tôi. Chính vì vậy bố tôi quyết định lấy dù 1 m2 để thờ cúng cho ông bà cũng lấy. Mà bà nội tôi thì bảo không cho bố mẹ tôi. Họp đi họp lại đều bảo di chúc không còn.

Tôi xin các luật sư tư vấn giúp tôi về luật thừa kế đất trong chuyện này và bố tôi sẽ được quyền thừa kế không. Nếu có tranh chấp khiếu kiện xảy ra, pháp luật có tìm và truy cứu trách nhiệm với người hủy bản di chúc không ?

Xin chân thành cảm ơn.

- V.C

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi. Chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau:

Thứ nhất, Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Thời điểm, địa điểm mở thừa kế như sau:

Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Trong trường hợp này, Ông bạn đã mất nhưng trước khi ông mất có để lại di chúc cho bố bạn 1 nửa mảnh đất để thờ cúng ông bà , vậy thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản mất. Lúc đó, di chúc của ông bạn sẽ được thực hiện nhưng bà bạn và những người còn lại không thực hiện chia theo di chúc tại thời điểm đó. Đến này, gia đình có xảy ra mâu thuẫn và bản di chúc do ông bạn để lại đã bị người khác xé đi nên xét theo Khoản 1 Điều 666 BLDS quy định Di chúc bị thất lạc, hư hại : " Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật."

Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì bố bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên sẽ được hưởng 1 phần di sản thừa kế.

Mặt khác, theo Điều 623 BLDS 2015 quy định Thời hiệu khởi kiện về thừa kế:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, dựa theo thời hiệu khởi kiện về thừa kế, gia đình bạn có thể khởi kiện yêu cầu được thừa kế theo phần di chúc mà ông bạn để lại ( nếu gia đình bạn chứng minh được ông bạn có để lại di chúc cho bố bạn hưởng một phần mảnh đất). Còn xét theo bên bà bạn, hiện bà bạn vẫn còn sống nên chỉ chia phần di sản của ông để lại và về phần bà bà có quyền không cho bố mẹ bạn hưởng phần di sản thuộc về bà mà thôi, bà không được quyết định tất cả với mảnh đất đó trừ khi ông bạn không để lại di chúc.

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản từ chối nhận di sản thừa kế mới nhất năm 2022

Thứ hai, Nếu có tranh chấp khiếu kiện xảy ra, pháp luật sẽ tìm và truy cứu trách nhiệm với người hủy bản di chúc. Bởi lẽ pháp luật bảo vệ khi bản di chúc này được công chứng, chứng chứng thực nhằm đảm bảo tính hợp pháp của bản công chứng đồng thời quy định về gửi giữ bản di chúc thuộc về ai. Bạn cũng không nói rõ cho chúng tôi biết ai đã được ông bạn ủy thác cho để gửi giữ bản di chúc của mình nên chúng tôi khó xác định được trách nhiệm. Theo Điều 641 BLDS Gửi giữ di chúc như sau:

Điều 641. Gửi giữ di chúc

1. Người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc.

2. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về công chứng.

3. Người giữ bản di chúc có nghĩa vụ sau đây:

a) Giữ bí mật nội dung di chúc;

b) Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc;

c) Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của ít nhất hai người làm chứng.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài tư vấn pháp luật về thừa kế:1900.6162 . Chúng tôi sẳn sàng giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mẫu di chúc thừa kế tài sản, đất đai mới nhất năm 2022

2. Tư vấn về thừa kế đất đai theo di chúc ?

Kính chào luật sư, mong luật sư có thể tư vấn giúp tôi vấn đề sau: Khi bố, mẹ của bác tôi mất có để lại di chúc có xác nhận của xã, chia thừa kế đất cho 3 người con trai là 3 sào 2 thước với nội dung như sau: Anh trai của bác tôi được hưởng 1 sào 2 thước là phần ở giữa, bác tôi được 1sào ở phần phía đông, em trai bác tôi được 1 sào ở phần phía tây. Năm 1991 nhà bác tôi có lấy lại được phần đất ao từ hợp tác xã và họp chia lại đất cho 3 ông con trai có sự chứng kiến của 3 bà con gái còn lại có biên bản và chữ ký của 6 người (nhưng không có xác nhận của ủy ban xã). Ông con trai cả được 491m2, ông con trai thứ 2 (bác tôi) được 278m2 và 108m2 đất ao kia, ông con trai út được 404m2. Năm 1993 thì địa chính xã đã đo lại và xác định diện tích đất của từng ông để quản lý và đóng thuế sử dụng đất như sau: ông con trai cả là 480m2, ông con trai thứ hai 461m2, ông con út 384m2.
Cả 3 ông đều xác nhận đồng ý diện tích đất này để đóng thuế, không có dị nghị nào và ký vào sổ địa chính xã. Nay bác rể tôi mất còn bác gái và 2 anh chị, ông con út yêu cầu chia lại đất theo đúng di chúc bố mẹ để lại phần thừa chia đều cho 3 ông và yêu cầu bác tôi phải trả phần đất dư ra.
Câu hỏi: bác tôi có phải trả lại phần diện tích này không vì phần đất dư này lại nằm trên diện tích đất ao nay là vườn của bác tôi đang sử dụng ?
Xin trân thành cảm ơn!

>> Xem thêm:  Quy định mới về phân chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất, nhà ở ?

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì phần đất ao lấy lại từ hợp tác xã bạn do gia đình bạn đã sử dụng đất này từ năm 1991 nên nếu nhà bác bạn đang sử dụng đất ổn định thì cần xem xét các căn cứ theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai như sau:

"Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định

1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất."

Nếu bác bạn có một trong các tài liệu quy định tại khoản 2 và khoản 4 nêu trên thì nhà bác bạn được xác định là đang sử dụng đất ổn định thì căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, bạn sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

"Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.

....

4. Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này được thực hiện theo quy định tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;

c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng như trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đất đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

6. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong các trường hợp quy định tại Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều này mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định."

Khi bạn đã được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất thì bạn sẽ không phải trả lại đất. Ngoài ra, như bạn đã nói thì mảnh đất ao đó đã được 3 người con trai thống nhất chia lại, có sự chứng kiến và chữ ký, được địa chính xã đo lại và từng người đã đóng thuế trên diện tích đất ao mình được chia nên gia đình bác bạn sẽ không phải trả lại mảnh đất ao đó.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với câu hỏi của bạn. Chúc bạn thành công!

3. Quy định về quyền thừa kế đất đai của cháu ?

Thưa luật sư, cháu có vấn đề về việc hưởng tài sản đất đai nên kính mong luật sư tư vấn giúp cháu ạ. Ông bà nội cháu có mảnh đất từ ngày xưa, đứng tên bà nội cháu (nhưng chưa có sổ đỏ ạ). Ông cháu đã mất từ năm 1989, bà cháu năm nay cũng hơn 90 tuổi.

Ông bà cháu có tất cả 8 người con (4 con trai, 4 con gái) nhưng chỉ có bố cháu và chú cháu là ở cùng bà ( hai nhà trên cùng mảnh đất - đều chưa có sổ đỏ, phần nhà bên bố cháu là bố mẹ cháu xây, phần bên chú là chú thím xây), những người con còn lại đều có gia đình riêng ở nơi khác và không lấy phần đất đó. Tức là mảnh đất của ông bà giờ chỉ để chia cho hai người con trai là bố cháu và chú cháu. Bố cháu và chú cháu đều đã mất ( do tai nạn bất ngờ) bố cháu đã ly dị với mẹ cháu từ năm 1995. Cháu ở với bố, chị gái cháu ở với mẹ. Mẹ cháu cũng đã mất và hai chị em cháu cũng đã lấy chồng (chị cháu hiện tại đi lại khó khăn, chưa tìm được nguyên nhân, người ta chẩn đoán theo dõi liệt hai chân dưới) chú cháu có vợ và hai con (vợ chồng chú cháu không ly dị) hiện tại, mảnh đất đấy có bà, thím và hai người con của thím sử dụng (sử dụng luôn cả phần nhà do bố mẹ cháu xây dựng). Thím cháu muốn chiếm hết tài sản của ông bà cháu không muốn cho cháu thừa hưởng, thím còn tự lập di chúc bảo bà cháu điểm chỉ vào để cho con trai thím (bản di chúc không có người làm chứng). Vậy cháu xin được hỏi trong trường hợp này thì cháu với chị gái cháu có được hưởng phần đất mà trước đây bố mẹ cháu xây dựng lên không ạ?

Cháu kính mong luật sư có thể trả lời giúp cháu. Cháu cảm ơn!

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản phân chia tài sản thừa kế mới năm 2022, Cách chia thừa kế quyền sử dụng đất ?

Vấn đề thừa kế đất đai của cháu ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế, gọi 1900.6162

Trả lời

Đối với điều kiện mà một bản di chúc được coi là hợp pháp thì luật có quy định như sau

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản khai nhận di sản thừa kế mới nhất năm 2022

- Về người lập di chúc. Theo Điều 625, Bộ luật dân sự 2015 thì người lập di chúc phải thỏa mãn:

Điều 625. Người lập di chúc

1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

- Nếu đủ điều kiện về người lập di chúc ta xét thêm những trường hợp sau, nếu thỏa mãn thì bản di chúc sẽ được coi là hợp pháp:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Vì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển giao tài sản của mình cho người khác sau khi qua đời, những người khác không có quyền cũng không có cơ sở pháp luật để thực hiện thay.

Trong trường hợp của bạn, thím của bạn đã có hành vi tự lập di chúc – có nội dung theo ý chí của thím chứ không phải theo ý chí người có tài sản (là bà bạn). Thêm nữa, sau khi lập di chúc lại bảo bà điểm chỉ tức là thím của bạn có thể đã lừa dối, cưỡng ép bà để bà bạn làm theo lời thím. Vì những lý do như vậy, bản di chúc này hoàn toàn không hợp pháp, chị em bạn hoàn toàn có thể được thừa kế trong những trường hợp.

- Trường hợp thừa kế theo di chúc bà bạn lập một bản di chúc khác có đủ điều kiện theo Bộ luật dân sự. Trong đó có nội dung là để lại thửa đất cho chị em bạn.

- Trường hợp thừa kế theo pháp luật, nếu trước khi mất bà của bạn không để lại di chúc phân chia tài sản thì phần tài sản của bà bạn (kể cả mảnh đất) sẽ được chia theo pháp luật. Tại thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết thì những người sau là đối tượng được thừa kế theo pháp luật của bà bạn:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

quy định những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước. Bà bạn vẫn còn 6 người con đẻ - đây sẽ là đối tượng ở hàng thừa kế đầu tiên được hưởng di sản của bà bạn. Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người thân thuộc của người để lại di sản thì, pháp luật lại quy định thêm:

>> Xem thêm:  Các loại thuế, phí, lệ phí phải nộp khi chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Thừa kế thế vị là trường hợp thừa kế đặc biệt. Vì bố của bạn (là người con) đã chết trước bà của bạn nên chị em bạn có thể được thừa kế thế vị thay cho bố mình và cùng được hưởng được phần di sản bố bạn sẽ được hưởng nếu còn sống. Nếu muốn hưởng phần đất mà trước đây bố mẹ bạn xây dựng thì chị em bạn cần đặt vấn đề thỏa thuận với những người thừa kế theo pháp luật khác của bà bạn để nhận mảnh đất đấy.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

4. Cách giải quyết tranh chất thừa kế đất đai ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Khi ông nội em còn sống, bố em và các anh chị em cùng cha khác mẹ trong gia đình họp lại và chia tài sản. Ông nội em có viết tay 1 bản phân chia tiền đất đai bán được và nhượng lại quyền sở hữu ngôi nhà đang ở cho bố em khi ông nội em mất và có chữ ký của tất cả anh chị em của bố em trong gia đình.

Đến nay ông nội em mất đi thì chú em muốn giành quyền sở hữu mảnh đất đó và đem bán cho người khác. Vậy gia đình em có cơ sở để gửi đơn thưa kiện dành lại mảnh đất đó hay không? Biên bản đã ký kết giữa các anh chị em của bố em có hiệu lực không?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.A

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản đề nghị nhận thừa kế mới nhất 2022 ? Quy định về quyền hưởng thừa kế

Tư vấn thừa kế đất đai khi bản di chúc bị hủy ?

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Hiệu lực của biên bản họp gia đình:

Điều 116 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 116. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự:

Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

>> Xem thêm:  Thừa kế thế vị là gì ? Cách xác định người được hưởng thừa kế thế vị ?

Như vậy, theo quy định trên thì biên bản họp gia đình sẽ là một giao dịch dân sự. Vì vậy, đối với trường hơp của bạn, biên bản họp gia đình cần phải được lập bằng văn bản và có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền thì biên bản họp gia đình đó mới có hiệu lực pháp luật.

Điều 129 Bô luật dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Do biên bản họp gia đình của bạn chỉ có chữ ký các thành viên nên theo quy định tại Điều 129 thì biên bản họp gia đình của gia đình bạn vô hiệu (không có hiệu lực pháp luật).

Biên bản họp gia đình thống nhất phân chia tiền đất đai bán được và nhượng lại quyền sở hữu ngôi nhà đang ở cho bố bạn không có hiệu lực pháp luật.

2. Khởi kiện chia thừa kế

Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.

8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.

11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh:

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Người chết không để lại di chúc ai có quyền hưởng di sản ? Hưởng di sản thừa kế theo pháp luật ?

Như vậy, trong trường hợp này, nếu chưa hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của ông bạn (10 năm) thì bạn có thể khởi kiện chia thừa kế và cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của bạn là Tòa án nhân dân cấp huyện.

Trân trọng./.

5. Cách chia thừa kế đất đai cho Ông nội để lại ?

Kính chào Luật sư Minh Khuê. Ngày 24/11/1993, gia đình tôi đã nhận được đơn mời của UBND Xã tại Tỉnh Lâm Đồng đến xã để hòa giải theo 1 đơn khiếu nại của một thành viên trong đại gia đình.
Buổi hòa giải không thành vì sự vô lý của nguyên đơn. Năm 1976 ngôi nhà gỗ được dựng trên lô đất đó do Ba Tôi làm chủ nhà, sống trong ngôi nhà đó => Tất cả có 6 thành viên trong ngôi nhà gỗ nhỏ. (Con ruột của Ông Nội Tôi với 2 vợ hợp pháp - > vợ này chết, cưới vợ khác ).
- 1978 Ba Tôi cưới vợ và sống chung trong ngôi nhà đó. và nuôi các em ăn học. (Ba Tôi là con trưởng).
- 1978 Ông Nội Tôi tái giá và sống cùng với vợ thứ 3 ( hợp pháp ) trên 1 lô đất khác. - 1988 Ông Nội Tôi qua đời, trước đó ông đã di ngôn cho Cháu Đích Tôn thửa đất này và nhà này làm nhà Tổ, ( có đất hương hỏa riêng ). và Cô nào không lập gia đình thì ở trong ngôi nhà gỗ đó cho đến chết. Ông qua đời và nhắc lại điều này thêm 1 lần nữa. Tình hình vẫn ổn định từ khi ông Nội Tôi mất cho đến nay. Thửa đất này Mẹ Tôi đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ hợp pháp từ năm 1995. (Do em trai tôi - Cháu đích tôn mới 5T) không hề có sự tranh giành suốt từ 1998 cho đến nay.
- Vào tháng 10/2015 gia đình Tôi đào đất để trồng tiêu, hầu có thêm thu nhập. Và đã bị dòng họ làm đơn khiếu nại và đòi đồng sở hữu. Hiện nay dòng thừa kế thứ 1 bao gồm 11 người,( Bà vợ thư 3 và 10 đứa con của Ba bà vợ) làm đơn đòi đồng sở hữu lô đất này... 10 người con trong đó có ba Tôi. Tôi xin trình bày sơ lược.

>> Xem thêm:  Thủ tục thừa kế đất đai, nhà ở khi người thân không để lại di chúc ? Quyền thừa kế đất đai ?

Xin được sự tư vấn của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, ông nội bạn mới chỉ có di ngôn để lại mảnh đất đó cho cháu đích tôn, chứ không có người làm chứng hay có di chúc để lại, cho nên việc cháu đích tôn được ông để lại miếng đất là không có căn cứ pháp luật.

Thứ hai, mẹ bạn được giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứ không được sang tên mảnh đất đó. Cho nên buộc phải chia di sản theo quy định của pháp luật vì không có di chúc để lại. Theo Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo nguyên tắc thì tài sản được chia đều cho người được hưởng thừa kế. Trong trường hợp nếu gia đình bạn muốn giữ lại miếng đất thì phải trả bằng tiền cho các người thừa kế còn lại tương ứng với phần đất được hưởng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy định về thừa kế đất đai theo luật dân sự hoặc theo di chúc ? Thủ tục chia thừa kế hợp pháp ?

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê