Trả lời:

Về vấn đề bán đấu giá, xin trích dẫn các điếu quy định về bán đấu giá theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để bạn tham khảo:

Điều 456. Bán đấu giá

Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý muốn của chủ sở hữu hoặc pháp luật có quy định.

Tài sản chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Điều 457. Thông báo bán đấu giá

1. Người bán đấu giá phải thông báo công khai tại nơi bán đấu giá và trên phương tiện thông tin đại chúng về thời gian, địa điểm, số lượng, chất lượng và danh mục các tài sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản trước ngày bán đấu giá.

2. Những người có liên quan đến tài sản bán đấu giá phải được thông báo về việc bán đấu giá để tham gia định giá khởi điểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Điều 458. Thực hiện bán đấu giá

1. Khi bán đấu giá, người bán đấu giá công bố giá bán khởi điểm.

2. Người trả giá cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm là người được mua tài sản bán đấu giá và được coi là đã chấp nhận giao kết hợp đồng.

3. Việc bán đấu giá được lập thành văn bản và có chữ ký của người mua, người bán và hai người chứng kiến.

4. Thời hạn giao tài sản bán đấu giá, thời hạn và phương thức thanh toán được thực hiện theo quy chế bán đấu giá.

5. Người bán đấu giá không chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng của tài sản bán đấu giá.

6. Trong trường hợp giá mua cao nhất được công bố thấp hơn so với giá khởi điểm thì cuộc bán đấu giá xem như không thành.

Về trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản do Chính phủ quy định và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành.


Cụ thể ở trong trường hợp này là Nghị định 05/2005/NĐ-CP ban hành ngày 18/01/2005 nhưng nghị định này sắp hết hiệu lực thi hành (đến ngày 01/7/2010 là hết) sẽ được thay thế bởi Nghị định 17/2010/NĐ-CP .

Bạn có thể nghiên cứu trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản ở hai quy định trên tại Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản và Nghị định 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản;

Bạn có thể tham khảo thêm khoản 1 điều 61 của Pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : Về việc xử lý vi phạm hành chính  (Xem thêm: Pháp lệnh sửa đổi một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 04/2008/PL-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) và Nghị định số 128/2008/NĐ-CP để làm căn cứ thực hiện vụ việc trên.

Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với luật sư của công ty qua số :1900.6162 để được hỗ trợ trực tiếp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật đấu thầu