Tuy nhiên, ngày hôm qua tôi nghỉ việc ở nhà và nhận được điện thoại của đồng nghiệp khác nói bọn họ đã cử một người đứng tên và đã viết đơn kiện tôi nói xấu đồng nghiệp (người mà "bị tôi nói xấu" hiện đã không còn làm việc ở cơ quan tôi nữa, chỉ em gái cô ấy vẫn còn làm ở đây và đang chơi với tôi). Họ cũng bịa đặt ra rằng tôi nói xấu vài người khác mà có những việc vốn tôi là nghe từ chính họ nói ra hồi chúng tôi vẫn còn nói chuyện với nhau, tóm lại những điều này hoàn toàn là không có vật chứng gì, cả đối với tôi và họ. Nhưng nghiêm trọng là họ lại kết luận rằng vì tất cả những điều trên nên tôi là người ác độc, có thể gây nguy hiểm cho họ và họ lo lắng cho tính mạng của mình nên kiện tôi lên ban lãnh đạo công ty để loại tôi ra khỏi cộng đồng công ty.

Mặc dù là một lá đơn buồn cười và công ty không giải quyết nhưng có nhiều đồng nghiệp khác không biết rõ, chỉ biết tôi bị kiện và truyền lưu những điều trong đơn ( đồng nghiệp tôi kể trước khi gửi họ cầm đơn đưa cho rất nhiều người đọc kể cả người đồng nghiệp này và khuyên cô ấy cùng đứng đơn nhưng cô ấy từ chối). Đơn giản có lẽ mục đích của bọn họ viết đơn cũng chỉ là để "công khai bêu xấu" tôi mà thôi còn có loại tôi ra được không không quan trọng nhưng tôi rất khó chịu vì mình bị vu khống nói những điều mình không hề nói, có nguy cơ gây ra hiềm khích giữa tôi và đồng nghiệp khác và cuối cùng trở thành đề tài cho mọi người bàn tán. Tuy có nhiều đồng nghiệp khác khuyên tôi coi như bọn họ điên và mặc kệ vì cũng không ai xử vụ này chỉ nhắc nhở bọn họ thận trọng khi viết đơn không có chứng cứ ( nhưng không công khai mà gọi cô ta lên phòng nói chuyện) nhưng tôi không muốn đơn giản cho qua vì sẽ có thể có các lần sau. Thêm vào đó vì là việc vớ vẩn nên công ty cũng không đồng ý nêu ra kết luận một cách công khai qua văn bản hay loa mà chỉ coi như cô ấy đã rút đơn về và cũng không gọi tôi lên đối chất gì với cô ta( không có văn bản chính thức ghi lại có lá đơn này) mà chỉ khuyên riêng tôi coi như không có gì, nhưng tôi thật sự rất bức xúc.

Mặc dù sự việc rất nhỏ nhưng có thể sau đó sẽ lan truyền ngày càng rộng vì có người nói nhìn thấy họ chuẩn bị rất nhiều đơn tiếp sau và bảo "thỉnh thoảng lại gửi một lá". Thế nên tôi muốn hỏi, tôi liệu có đủ chứng cớ có thể tố cáo họ tội bịa đặt vu khống, nhất là cho rằng tôi gây nguy hại đến người xung quanh làm ảnh hưởng danh dự của tôi, yêu cầu họ công khai xin lỗi tôi không (tôi định gửi thẳng ra công an phường) bởi vì ngoài 1 lá đơn đó (hiện thì đang nộp ở ban lãnh đạo công ty) tôi không có bất cứ ghi âm hay gì tương tự chứng minh họ mới là người nói điều đó mà không phải tôi.

Còn bọn họ tuy không có ghi âm nhưng là một nhóm người (4 người, một người còn là họ hàng của ban lãnh đạo), họ có thể làm nhân chứng cho nhau. (Và trường hợp xấu nhất, lá đơn duy nhất đó lúc nào đó cũng bị rút về mất thì sao) Tôi lại không có nhân chứng gì vì những lần họ nói với tôi những điều đó là lúc tôi còn nói chuyện với họ, vì không hứng thú nên chỉ nghe để đấy, cũng không để ý và nhớ có ai cùng tôi phải nghe những chuyện đó không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn về việc bị bôi nhọ danh dự nhân phẩm?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:   1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Tội vu khống người khác đột nhập ăn cắp tài sản sẽ bị xử lý thế nào ?

1. Căn cứ pháp lý:

Hiến pháp năm 2013

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ Luật Hình sự năm 1999

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

2. Nội dung phân tích:

Theo quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 thì:

"Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm"

Hơn nữa, theo quy định tại Ðiều 37 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định như sau:

“ Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.”

>> Xem thêm:  Vu khống, đưa thông tin sai sự thực, xúc phạm danh dự người khác sẽ bị xử lý thế nào ?

Theo quy định tại Ðiều 604 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định:

“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm được quy định tại Điều 611 Bộ luật Dân sự 2005 như sau:

"1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Trong trường hợp này, nếu bạn có chứng cứ chứng minh người đó đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm của gia đình bạn thì bạn có thể viết đơn tố cáo. Người đó có thể bị phạt hành chính từ 100.000 đến 300.000VNĐ theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP nếu hành vi đó không cấu thành nên tội phạm. Người đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 121 Bộ luật Hình sự nếu hành vi của người đó cấu thành nên tội phạm:

Thêm vào đó, Điều 121 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội làm nhục người khác như sau:
"1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

>> Xem thêm:  Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Việc xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác được hiểu là làm tổn thương nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Việc đánh giá việc xúc phạm có ở mức độ nghiêm trọng hay không phải căn cứ vào thái độ, nhận thức của người phạm tội; cường độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm; vị trí và môi trường xung quanh; vị trí, vai trò, uy tín của người bị hại trong gia đình, tổ chức hoặc trong xã hội; dư luận xã hội về hành vi xúc phạm đó. Nếu có căn cứ rằng hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của các nhân viên khác đối với gia đình bạn đến mức nghiêm trọng thì bạn có thể tố cáo họ.

Điều 122 luật hình sự năm 1999 quy định về tội vu khống:

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

>> Xem thêm:  Xử lý như thế nào khi bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm?

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

>> Xem thêm:  Thời gian giải quyết nội dung đơn tố cáo được quy định như thế nào?

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Lưu ý đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.

Dựa trên tất cả quy định của pháp luật trên thì bạn có thể viết đơn tố cáo những nhân viên của công ty bạn về hành vi lan truyền thông tin sai sự thật về bạn làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của bạn. Tùy thuộc vào tình tiết họ phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua emailTư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                          

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự​.

>> Xem thêm:  Nhần lẫn trong vấn đề chuyển công tác của ban thường vụ Đảng ủy ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết trường hợp bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm?