Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự năm 2005

2. Nội dung phân tích

Chào anh (chị). Hiện tại em có cho một người vay tiền nhưng đến nay đã quá hạn trả nợ nhưng người vay vẫn chưa trả tiền. Hai bên có làm hợp đồng vay tiền như mẩu bên công ty mình nhưng chổ ký tên bên a và bên b có ký sai là bên vay và bên cho vay. Nhưng ở đầu thì ghi đúng. Chị cho e hỏi hợp đồng như vậy có được hay không. Và e có thể gởi đơn khởi kiện người vay tiền không trả được hay không. Nhờ anh ( chị) hướng dẫn giúp đở.

 Bên A hay bên B là cách gọi vắn tắt trong các hợp đồng. Nếu Hợp đồng bạn thể hiện ghi là bên vay và bên cho vay thì không làm thay đổi hiệu lực của hợp đồng. Do đó, hợp đồng này hợp pháp thì hoàn toàn làm căn cứ khởi kiện người vay được. 

Hợp đồng vay tài sản quy định thời hạn trả không thống nhất như sau: Số tiền vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm. lãi suất 1%/tháng. mỗi tháng bên vay phải thanh toán 25.000.000 đồng tiền nợ gốc. Đến tháng thứ 9 mà bên vay chưa thanh toán được khoản nợ gốc nào thì quyền khởi kiện yêu cầu thanh toán khoản nợ 200.000.000 đồng đã phát sinh đối với bên cho vay chưa? Em rất mong nhận được sụ tư vấn của các anh/chị ạ. Em cảm ơn.

 Điều 409 Bộ luật dân sự năm 2005: 

"Điều 409. Giải thích hợp đồng dân sự

1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó.

2. Khi một điều khoản của hợp đồng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa thì phải chọn nghĩa nào làm cho điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất cho các bên.

3. Khi hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với tính chất của hợp đồng.

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

4. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.

5. Khi hợp đồng thiếu một số điều khoản thì có thể bổ sung theo tập quán đối với loại hợp đồng đó tại địa điểm giao kết hợp đồng.

6. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.

7. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.

8. Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế.".

Như thông tin bạn cung cấp hợp đồng này sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên yếu thế. Do đó, đến tháng 9 mà chưa trả hết nợ thì quyền khởi kiện yêu cầu thanh toán khoản nợ 200.000.000 đồng chưa phát sinh. 

Chào luật sư ! Trong Bộ luật dân sự 2015 cách tính lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là như thế nào vậy? Ví dụ cụ thể giùm cháu. Xin cảm ơn luật sư !

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau: 

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.".

Ví dụ: Các bên cho vay với số tiền là 100.000.000 đồng thì mức lãi suất 2 bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm , tức là 1,67%/tháng. 

Nếu 2 bên thỏa thuận với mức lãi suất 2%/tháng, tức là lãi suất 1,67% có hiệu lực và 0,33%/tháng tức là mức lãi suất vượt quá sẽ không có hiệu lực. 

Nếu 2 bên chỉ thỏa thuận với số tiền là: 1.000.000 đồng mà không thỏa thuận phần lãi suất thì mức lãi suất được xác định bằng 50% x 20% = 10%/năm của khoản tiền vay. 

Cháu có làm hợp đồng vay của 1 người là 80.000.000 đồng, cháu đóng tiền lãi là 4.000.000 đồng/tháng.Hợp đồng có nội dung là chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không ghi lãi suất trên hợp đồng từ năm 2013 đến nay có tháng đóng tiền lãi tháng không đóng và hiện giờ số tiền cháu phải trả cho người ta là 170.000.000 đồng.như vậy có thể gọi là cho vay nặng lãi và kiện ra tòa giải quyết được không.Nếu kiện thì cháu sẽ đi đến đâu để kiện. Mong luật sư tư vấn giúp. Cháu xin cảm ơn. 

Nếu bạn đóng lãi 4.000.000 đồng/80.000.000 đồng/tháng, tức là lãi suất 5%/tháng. Hiện tại pháp luật quy định mức lãi suất tối đa pháp luật cho phép là 1,125%/tháng. Như vậy, đối với mức lãi suất vượt quá 1,125%/tháng sẽ bị tòa án tuyên bố vô hiệu. Bạn có thể khởi kiện trực tiếp đến Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người cho vay cư trú.

Đối với mức lãi suất 5%/tháng chưa đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng theo quy định của Bộ luật hình sự vì mức lãi suất gấp chưa quá 10 lần mức lãi suất mà Nhà nước cho phép. 

Thưa luật sư, tôi có cho một người bạn vay tiền có làm hợp đồng vay nhưng không ghi thời hạn trả nợ chỉ để làm tin với nhau và hứa miệng sẽ trả trong 15 ngày nhưng sau 15 ngày tôi đòi thì khất nợ và đến hơn 1 tháng sau thì có dấu hiệu không muốn trả nợ và nói là hợp đồng đó không có hiệu lực vì nếu ra tòa người bạn tôi không chịu nhận là mình đã nhận số tiền đã ghi trong hợp đồng đã ký thì hợp đồng đó vô hiệu như vậy có đúng không? và tôi phải làm cách nào để có thể đòi được khoản nợ trên?

 Nếu trong giấy tờ vay không thể hiện thời hạn và không có bằng chứng chứng minh bên vay hứa 15 ngày sau sẽ trả thì được xem xét đây là khoản vay không có thời hạn. Trách nhiệm của bên vay được thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005:

"Điều 477. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

>> Xem thêm:  Rủi ro khi nhờ người đứng tên vay trả góp mua nhà và đứng tên nhà hộ là gì ?

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.".

Việc hợp đồng có vô hiệu không không phụ thuộc vào việc bên vay có nhận hay không nhận đã vay tiền, do đó, bạn vẫn sử dụng văn bản đó để làm căn cứ khởi kiện tại Tòa án nhân dân. 

Vợ chồng tôi có cho 1 người bạn vay tiền với số tiền 290 triệu đồng, không tính lãi suất và có lập hợp đồng vay mượn tại văn phòng công chứng tư. Thời hạn trả tiền trong hợp đồng là 4 tháng. Tuy nhiên, đến nay đã quá thời hạn trả 2 năm mà bạn tôi vẫn chưa hoàn trả lại cho vợ chồng tôi (kể cả là 1 phần số tiền trên). Xin hỏi Luatminhkhue: - Tôi phải làm thế nào theo quy định của pháp luật để đòi số tiền trên? - Nếu tôi khởi kiện ra tòa án thì theo quy định của pháp luật bạn tôi có trả tôi số tiền trên hay không? và phải chịu hình phạt nào theo quy định pháp luật? - Nếu khởi kiện thành công thì việc thi hành án có giúp tôi đòi lại số tiền trên hay không?(vì Vợ chồng bạn tôi là công chức, hiện đang ở với bố mẹ và không có tài sản có giá trị riêng)

Để đòi lại số tiền trên thì bạn có thể khởi kiện trực tiếp tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người vay cư trú để yêu cầu giải quyết. Bạn bạn có nghĩa vụ trả lại cho bạn số tiền gốc và tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định tại BLDS năm 2005:

"Điều 305. Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.".

Bác em thế chấp Giấy chứng nhận QSDĐ để vay ngân hàng, nhưng trong thời gian đó bác gái em lại không có nhà. Bác trai đã mượn người khác mạo danh kí thay bác gái. Vậy em xin hỏi trong trường hợp này hợp đồng vay vốn có hiệu lực không ạ, bác trai em có vi phạm luật không ạ, và cả người đã kí thay bác gái có vi phạm không ạ. Xin luật sư tư vấn giúp em và cơ sở ở điều khoản nào để em tìm hiểu kĩ hơn ạ. Em xin chân thành cảm ơn!

Nếu đất này được xem xét là tài sản riêng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng cho bác trai bạn thì khi bác thế chấp ngân hàng không cần được sự đồng ý của bác gái.

Nếu đất này được xem xét là tài sản chung của 2 vợ chồng thì khi thế chấp quyền sử dụng đất phải được sự đồng ý của 2 vợ chồng. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

"Điều 342. Thế chấp tài sản

1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.".

>> Xem thêm:  Vay hỗ trợ trả góp và mua điện thoại trả góp mà mất khả năng lao động thì bị xử lý thế nào ?

Như vậy, bác bạn không có quyền sở hữu đối với toàn bộ tài sản đó do đó việc thế chấp là trái quy định của pháp luật. 

Do đó, hợp đồng này sẽ được xem xét là vô hiệu theo quy định của pháp luật, cụ thể:

"Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.".

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?

Bộ phận tư vấn luật dân sự. 

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?