Đất nhà tôi vẫn chung sổ đỏ với nhà bà tôi (gia đình tôi đã đóng thuế đất riêng),.khi bà tôi ốm nặng ông nội tôi bỏ đi hơn 30 năm, đã lấy vợ và đang sinh sống ở nơi khác về thăm bà tôi. trong thời gian thăm bà tôi ông cùng con gái (tức cô của tôi) đã bế bà tôi lên phòng công chứng làm giấy trao tặng đất cho cô tôi bao gồm cả mảnh đất nhà tôi đang ở lúc đó gia đình chúng tôi không biết gì.trong giấy trao tặng đất có điểm chỉ và chữ ký của ông bà tôi có dấu công chứng.sau khi biết được sự việc gia đình tôi đã làm đơn lên sở TNMT xin dừng việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cô tôi..Vậy tôi muốn hỏi quý luật sư nếu khởi kiện ra toà gia đình tôi có lấy lại được đất không?
Kính mong quý luật sư tư vấn giúp gia đinh tôi.
Xin trân thành cảm ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của công ty luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:
Căn cứ pháp lý:
Luật hôn nhân gia đình năm 2015
Nội dung tư vấn:
Vấn đề thứ nhất: quyền sử dụng thửa đất rộng 80m2 là tài sản riêng của bà bạn hay là tài sản chung trong tời kì hôn nhân của cả ông bà bạn?
Luật hôn nhân gia đình năm 2015 quy định:
Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung:
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Nếu là tài sản riêng của một mình bà bạn, thì bà bạn có quyền định đoạt với mảnh đất đó, còn nếu là tài sản chung của ông bà bạn, thì khi tặng cho gia đình bạn cũng phải được sự đồng ý của ông bạn.
Vấn đề thứ hai: Tình trạng của bà bạn khi được đưa đến nơi công chứng?
Luật công chứng năm 2006 quy định:
Điều 8. Người yêu cầu công chứng:
1. Người yêu cầu công chứng là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền của tổ chức đó.
2. Người yêu cầu công chứng phải có năng lực hành vi dân sự, xuất trình đủ các giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó.
Theo như thông tin bạn cung cấp, ông bạn trở về khi bà bạn ốm nặng, và ông bạn đã "bế" bà bạn lên phòng công chứng làm giấy trao tặng, khi đó liệu bà bạn có nhận thức được hành vi của mình không? Có đủ minh mẫn, tỉnh táo và biết rõ những gì mình đang làm không? Nếu bà bạn không nhận thức được hành vi lúc bấy giờ thì bên công chứng đã không thực hiện đúng thủ tục công chứng. Do đó, văn bản công chứng sẽ không có hiệu lực.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai.