1. Tư vấn về tranh chấp nuôi con khi ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ai là người có quyền nuôi con khi tiến hành ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương? Giải quyết thế nào khi hai vợ chồng cùng tranh chấp nuôi con? Con có quyền chọn lựa ở với bố hoặc mẹ khi bố mẹ ly hôn không ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Về nguyên tắc, hai vợ chồng có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con và thỏa thuận này được Tòa án ghi nhận trong Bản án. Nếu vợ chồng sự không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau khi ky hôn thì Tòa án sẽ quyết định vấn đề này căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và tuân theo nguyên tắc con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (trừ trường hợp người mẹ không muốn nuôi dưỡng hoặc trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.).Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con.

Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định trong tất cả các trường hợp sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc và được quyền thăm nom con mà không ai có thể cản trở quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người kia.

Pháp luật Việt nam có quy định cụ thể về việc giải quyết việc tranh chấp người trực tiếp nuôi con khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng tranh chấp về việc ai là người có quyền nuôi con như sau:

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quy định cụ thể về việc nuôi con sau ly hôn.

"Điều 81: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, có hai cách để giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con:

Thứ 1: Vợ chồng thỏa thuận để quyết định người trực tiếp nuôi, chăm sóc, giáo dục con.

Thứ 2: Nếu vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án cho được nuôi con. Trong trường hợp con dưới 36 tháng tuổi thì về nguyên tắc sẽ giao cho người mẹ là người được quyền trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. thì con sẽ giao cho người cha chăm sóc. Đối với con trên 7 tuổi thì ngoài việc xem xét về điều kiện kinh tế, khả năng chăm sóc, giáo dục của hai bên cha mẹ còn xét đến nguyện vọng của con muốn ở với ai.

Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điệu kiện cho sự phát triển tốt về tình thần và phải xem xét nguyện vọng của con muốn sống trực tiếp với ại để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng. Cụ thể tòa án sẽ xem xét một cách tổng hợp trên ba phương diện sau đây để quyết định trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng.

Một là, căn cứ vào điều kiện về vật chất: ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…. các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ.

Hai là, các yếu tố tinh thần bao gồm: thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi, giải trí, nhân cách đạo đức của cha mẹ.

Sau khi thủ tục ly hôn được giải quyết xong, người trực tiếp nuôi con mà không chăm lo được tốt cho đứa trẻ, thì người cha mẹ không trực tiếp nuôi hoặc các cá nhân tổ chức được quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

"1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

.....

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Chia tài sản khi ly hôn khi đất chưa có sổ đỏ ?

Tư vấn khi ly hôn người vợ có được quyền nuôi hai con không ?

Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình: 1900.6162

Trả lời:

Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương bạn có thể tham khảo tại đây

Như vậy, bạn chỉ có thể nộp đơn tại Tòa án nơi chị cư trú nếu chị và chồng chị cùng thỏa thuận và đồng ý về vấn đề này theo quy định như trên.

Về vấn đề người trực tiếp nuôi con khi ly hôn được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Với trường hợp của bạn, cháu trai 9 tháng về nguyên tắc được giao cho bạn trực tiếp nuôi, trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc vợ chồng bạn có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Với cháu gái 3 tuổi 8 tháng, vợ, chồng bạn có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì vợ chồng bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó, bạn cần chứng minh được khả năng và điều kiện đảm bảo cuộc sống cho con sau ly hôn.

Yêu cầu thứ tư: Với khoản nợ của bạn và chồng bạn thì sẽ có hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Nếu các khoản nợ này xuất phát từ một trong các cơ sở sau đây thì khoản nợ của bạn và chồng bạn sẽ được coi là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Vợ chồng bạn sẽ phải cũng có nghĩa vụ trả nợ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

...........

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn có phải chia đôi không ?

Luật sư trả lời:

Thứ nhất, về việc bạn muốn ly hôn nhưng chồng không đồng ý.

Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Trong trường hợp chồng bạn không đồng ly hôn, bạn vẫn có thể làm đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên. Lúc này, Tòa án sẽ xem xét việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng bạn ( hành vi ngoại tình đã vi phạm nghĩa vụ chung thủy ) làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì sẽ giải quyết cho bạn ly hôn. Được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Thứ hai, về mảnh đất mà bạn được bố mẹ tặng cho trong thời kỳ hôn nhân.

Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Đồng thời, khoản 4 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Mảnh đất bạn được nhận tặng riêng từ bố mẹ trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của bạn. Bạn có toàn quyền đối với mảnh đất này, khi ly hôn bạn không phải chia đôi cho chồng bạn.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Ly hôn khi không có chứng minh thư nhân dân của chồng ?

Đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn có phải chia đôi không ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

VÌ vậy chị có thể đơn phương ly hôn khi hòa giải không thành tai Tòa án huyện, quận nơi chồng chị cư trú.

Trong trường hợp của chị, người chồng giữ giấy tờ về sổ hộ khẩu và chứng minh thư thì chị có thể liên hệ với công an xã/phường nơi người chồng cư trú để xin xác nhận chồng chị có địa chỉ thường trú tại địa phương.

Về việc nuôi con:

Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Như vậy, về nguyên tắc sau khi ly hôn vợ chồng bạn có thể thỏa thuận việc nuôi con để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con. Nếu không thỏa thuận được thì theo phán quyết của Tòa án. Trong trường hợp này, bạn có 2 con (cháu gái hơn 5 tuổi, cháu trai hơn nửa tháng) nếu bạn chứng minh được mình đủ điều kiện để nuôi con ( như khả năng tài chính, giáo dục, chăm sóc...) này thì bạn sẽ được xem xét quyền nuôi con. Về nguyên tắc con trai hơn nửa tháng sẽ được giao cho người mẹ nuôi. Mặc khác bạn có thể trình bày trước Tòa án về nhân cách của người chồng với tính hung hăng, cờ bạc, vũ phu, không giáo dục được con cái, đó cũng chính là lợi thế của chị để Tòa án có thể xem xét về quyền nuôi 2 con của chị.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn khi ly hôn người vợ có được quyền nuôi hai con không ?

Trả lời:

Theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên, vợ chồng có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con và thỏa thuận này được Tòa án ghi nhận trong bản án. Nếu hai bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau khi ky hôn thì Tòa án sẽ quyết định vấn đề này căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và tuân theo nguyên tắc con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (trừ trường hợp người mẹ không muốn nuôi dưỡng). Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con. Vì vậy, để có quyền được nuôi cả hai bé, người vợ cần chứng minh mình có đủ điều kiện và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu cũng như sự phát triển của hai bé.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hôn nhân - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?