1. Tư vấn việc người cha từ chối nhận con ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có người bạn gái lấy chồng được hơn 1 năm và có một cháu gái 8 tháng tuổi. Trong quá trình chung sống với gia đình chồng đã xẩy ra nhiều chuyện với bố mẹ chồng nên không chung sống được đã bế con về nhà bố mẹ đẻ được gần 2 tháng.

Đã có 2 lần chồng bạn ấy xuống xin về chung sống nhưng bạn ấy nhất định muốn ly hôn. Sau đó hơn một tuần thì chồng bạn ấy tới và cầm theo tờ kết quả xét nhiệm ADN và khẳng định đứa bé gái đó không phải là con của anh ta. Nhưng người bạn đó của em đã khẳng định không có quan hệ với ai ngoài chồng ra.

Luật sư cho em hỏi liệu tờ xét nhiệm ADN đó có gì sai sót hay do anh ta có ý làm giả để chối bỏ trách nhiệm không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!!

Người gửi: P.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 63 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

"Điều 63. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định.

Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định."

Bởi vì vợ chồng bạn của bạn chưa ly hôn và có con chung trong thời kỳ hôn nhân, thì con đó là con chung của 2 vợ chồng.

Việc tờ AND đó có sai sót hay không hay anh chồng có ý định làm giả để không nhận con, chúng tôi không thể giải đáp cụ thể từ những thông tin sơ bộ mà bạn đã cung cấp.

Khoản 2 Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nêu rõ, trường hợp bố mẹ không nhận con thì phải có chứng cứ rõ ràng và phải được Tòa án xác định. Như vậy, việc tờ giấy xét nghiệm ADN kia có chính xác hay không còn phụ thuộc vào phán quyết của Tòa án. Bạn có thể khuyên bạn gái của mình nhờ tới sự giúp đỡ của Tòa án trong việc xác minh tính xác thực hoặc tự mình đi làm một xét nghiệm ADN khác để tự xác minh.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận cha con mới nhất theo quy định của pháp luật ? Cần những giấy tờ gì để xác nhận cha con ?

2. Trách nhiệm khi người cha không nhận con ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em và anh ấy chưa kết hôn nhưng em đã có bầu rồi. Anh ấy giờ không nhận đứa con ấy, em có thể khởi kiện anh ấy về tội gì ạ ?

Xin luật sư cho em câu giải đáp ? Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.K

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp của công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Trường hợp của bạn không nói rõ độ tuổi của mình, nên chúng tôi hiểu là bạn đã đủ tuổi đăng ký kết hôn. Về mặt đạo đức hành vi của người bạn trai này không phù hợp, thiếu trách nhiệm và sai lệch với các chuẩn mực đạo đức xã hội. Trên phương diện pháp lý, người bạn trai này sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này ( vì việc giao cấu là hoàn toàn tự nguyên từ hai bên ).

Tuy nhiên, theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu bạn chứng minh được người bạn trai này là cha của đứa bé, thì người bạn trai của bạn phải thực hiện nghĩa vụ đối với con theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 69, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Mẫu tờ khai đăng ký nhận cha mẹ con mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn thủ tục nhận cha con ?

3. Thủ tục yêu cầu không nhận con thực hiện thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi có con với Anh A nhưng anh ta nói bé không phải con Anh ta và anh ta đã kết hôn với người khác. Vậy tôi có thể yêu cầu để xác định trách nhiệm hay không ?

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin anh cung cấp, đứa bé không phải là con của anh, nhưng anh và vợ anh đã kết hôn với nhau, đứa bé được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân thì về nguyên tắc, đương nhiên sẽ trở thành con chung của hai vợ chồng anh (căn cứ theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Tuy nhiên nếu như anh có giấy tờ chứng minh đứa bé đó không phải là con của anh như giấy xét nghiệm ADN, anh vẫn có thể không nhận đứa bé đó là con nhưng anh phải ra Ủy ban nhân dân xã hoặc nộp đơn lên Tòa án để yêu cầu không nhận đứa bé là con của mình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình:

Tại khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 102. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

1. Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này.

2. Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này:

a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định:

“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện), Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện).

Như vậy, anh có thể không nhận đứa bé đó là con của mình được.

Theo như thông tin mà anh cung cấp thì anh không muốn nhận đứa bé đó là con của mình, còn người bố thực sự của đứa bé lại muốn nhận con của mình. Hai bên không có tranh chấp về việc nhận con. Tuy nhiên, vấn đề của anh là không muốn xác nhận đứa bé là con của mình, theo đó, anh phải nộp đơn yêu cầu Tòa án xin xác nhận không phải là con mình. Anh làm hồ sơ nộp cho Tòa án nơi anh cư trú hoặc làm việc yêu cầu Tòa án xem xét để công nhận việc không nhận đứa bé là con của anh. Tòa án xem xét đơn, nếu có đủ căn cứ chứng minh anh không phải là cha đứa bé thì Tòa án ra quyết định công nhận việc không nhận con của anh.

Sau khi nhận được quyết định của Tòa án, anh nên đến Ủy ban nhân dân xã nơi anh cư trú để yêu cầu không nhận con, chấm dứt mối quan hệ cha con trên Giấy khai sinh của đứa bé, nếu đã đăng ký khai sinh và ghi vào Sổ hộ tịch. Hồ sơ yêu cầu không nhận con bao gồm:

– Bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân. Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú.

– Tờ khai không nhận cha con theo mẫu quy định;

– Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha – con; trường hợp này anh phải đưa ra những giấy tờ chứng minh đứa bé không phải là con mình, trong đó có quyết định của Tòa án;

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, niêm yết việc anh không nhận con tại trụ sở Ủy ban nhân dân và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 12 ngày làm việc.

Nếu thấy việc anh không muốn nhận con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung vào Sổ hộ tịch, cùng anh, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp cho mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Đăng ký kết hôn và làm thủ tục nhận con cần chuẩn bị hồ sơ những gì ? Nhận con để đăng ký ở đâu ?

4. Tư vấn về việc bạn trai không chịu nhận con và tổ chức đám cưới ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có em gái họ 20 tuổi đang học đại học chưa kết hôn nhưng đã có thai được 4 tháng, nhưng bản thân bạn trai và gia đình bạn trai không chịu nhận đứa trẻ và tổ chức làm đám cưới. Bây giờ gia đình đang rất bối rối, không biết phải làm thế nào ?
Rất mong sự tư vấn của các chuyên gia tư vấn, để gia đình tìm ra phương hướng giải quyết hợp tình hợp lý. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: M.T.T

Trước hết về hoàn cảnh của em gái chị đã được chị trình bày rất rõ ràng là bên nhà trai và bản thân anh chàng kia không muốn giải quyết vụ việc theo phương diện tình cảm. Về mặt pháp luật thì chúng ta cũng không thể bắt anh ta cưới em gái chị vì một trong những điều kiện kết hôn là " Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định" (khoản 1 điều 8 luật hôn nhân gia đình). Mặc dù vậy chúng ta vẫn có thể xác định trách nhiệm của anh ta với đứa con mà em gái chị đang mang thai.

Theo điều 101 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.

Trong trường hợp của em gái chị, do người bố không muốn nhận con cũng như không muốn thực hiện nghĩa vụ của mình với con chị nên chị có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) giải quyết với nội dung xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Tòa án sẽ tiến hành thụ lý và xét xử theo thủ tục tố tụng thông thường.

Khi đã xác định được anh ta là cha của con em gái chị thì có thể yêu cầu anh ta thực hiện các quyền và nghĩa đối với con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trân trọng cảm ơn./.

>> Xem thêm:  Con sinh ra không được làm giấy khai sinh ?

5. Tư vấn về việc người cha không chịu nhận con ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em năm nay 27 tuổi, quan hệ tình dục với bạn trai có thai nhưng bạn trai không chịu, chối bỏ cái thai thì Em có thể thưa kiện được không ạ ?

Em xin chân thành cảm ơn. Cảm ơn luật sư!

Người gửi: N.T.L

Điều 88, Luật hôn nhân và gia đình 2014 về xác định cha, mẹ:

"1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

Điều 89 quy định về xác định con:

"1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình."

Hiện tại bạn đang mang thai trước thời kì hôn nhân, do đó nghĩa vụ của bố và mẹ là phải công nhận đứa bé này. Bạn có bằng chứng về việc đứa bé trong bụng bạn là con của người đàn ông kia, nên nếu người đàn ông kia có ý định phủ nhận thì phải có bằng chứng và phải được Tòa xác định. Do đó, bạn có thể yêu cầu Tòa án can thiệp để buộc người kia thực hiện nghĩa vụ của cha đối với con bạn.

Bên cạnh đó, Điều 107 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng:

"1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."

Do đó, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu người đàn ông đó thừa nhận đứa con với mình, nếu không bạn có quyền yêu cầu tòa án can thiệp để lấy lại sự công bằng và yêu cầu quyền cấp dưỡng đối với con của mình.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân và gia đình - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục làm khai sinh cho trẻ khi chưa có giấy kết hôn ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha con là cơ quan nào?

Trả lời:

Tùy vào từng trường hợp mà thẩm quyền việc xác định cha con có sự khác nhau về thẩm quyền, cụ thể:

Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Câu hỏi: Ai có quyền yêu cầu xác định lại cha con?

Trả lời:

Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con là Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình.

Câu hỏi: Con chung trong thời kỳ hôn nhân là những ai?

Trả lời:

Con trong những trường hợp sau được xác định là con chung

Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.