1. Văn bản phân chia di sản thừa kế như thế nào được coi là hợp pháp?
>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến gọi:1900.6162
Trả lời:
Điều 656. Họp mặt những người thừa kế
1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:
a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thức phân chia di sản.
2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.
Như vậy, văn bản thỏa thuận việc phân chia di sản chỉ được tiến hành khi có mặt của tất cả những người thừa kế.
Hơn nữa, căn cứ theo Điều 57 Luật Công chứng năm 2014:
"Điều 57. Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản
1. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.
2. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.
Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc........
Theo đó, văn bản thỏa thuận phân chia di sản giữa những người thừa kế để có hiệu lực pháp lý buộc phải qua thủ tục công chứng và phải có mặt của tất cả những người thừa kế nên đối với trường hợp của bạn nếu chưa có cơ sở hay quyết định tuyên bố mất tích đối với người kia thì văn bản thỏa thuận phân chia di sản của bạn vẫn chưa được coi là hợp pháp vì vẫn thiếu người thừa kế tham dự thỏa thuận này.
2. Phân chia di sản thừa kế không di chúc ?
>> Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật thi thời hiệu khởi kiện về phân chia di sản thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế tức là khi hết thời hạn 10 năm đó thì các đồng thừa kế sẽ mất quyền khởi kiện về phân chia di sản thừa kế. Như vậy là dị của bạn trong trường hợp này sẽ không thể khởi kiện phân chia di sản thừa kế. tuy nhiên thi Căn cứ vào Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP:
2.4a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:
a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.
a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.
a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.....
Và căn cứ vào Điều 684 Bộ luật dân sự năm 1999 Họp mặt những người thừa kế
1- Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thức phân chia di sản.
2- Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.
Như vây là trong tinh huống này chúng ta chia ra làm 2 trường hợp .
Trường hợp 1 mọi người trong gia đình bạn có thỏa thuận chia ra tài sản đó cho 2 cậu nhưng thỏa thuận đó không lập thành văn bản. Như vậy trong trương hợp này thi thỏa thuận đó sẽ không được công nhận .chính vì vậy mà nó rơi vào trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung. Vi vậy mà dì của bạn có thể khởi kiện ra tòa yêu cầu phân chia tài sản chung. Và theo quy đinh của pháp luật thi đây thuộc tai sản sở hữu chung hợp nhất chinh vị vậy mà nêu như các bên không có thỏa thuận thi tái sản sẽ được chia đều cho các đồng sở hữu.
Trương hợp 2: thỏa thuận đó được lập thành văn bản. Theo quy định của phap luật thi thỏa thuận đó được công nhận chính vi vậy mà trong trường hợp này thi việc phân chía di sản sẽ tuân theo thỏa thuận đó chính vì vậy mà dì của bạn sẽ không thể khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung.
3. Tư vấn về chia di sản thừa kế trong gia đình ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi:1900.6162
Theo khoản 1 điều 640 Bộ luật dân sự 2015 quy định về sửa đổi, bổ sung ,thay thế, hủy bỏ di chúc như sau :
Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc
1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.
Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.....
Căn cứ vào điều này thì những người trong gia đình bạn bao gồm mẹ bạn, bạn và 3 người em còn lại thuộc hàng thừa kế thứ nhất và số tài sản là mảnh đất bố bạn để lại sẽ được chia đều ra làm 5 phần bằng nhau cho 5 người có nghĩa là bạn được hưởng 1/5 phần đất từ mảnh đất đó, việc mẹ bạn bắt bạn ký vào giấy nhượng quyền đất lại cho chú em thứ 3 là không có căn cứ hợp pháp.Trong trường hợp nếu bạn đồng ý nhượng quyền sử dụng đất của mình cho chú thứ 3 thì bạn chỉ có quyền nhượng lại 1/5 đất mà bạn nhận được khi chia theo pháp luật này. Như vậy khi di chúc đã không còn thì số tài sản là mảnh đất của bố bạn đứng tên để lại sẽ được chia theo pháp luật thừa kế, mọi ngừơi trong hàng thừa kế đều được hưởng như nhau và không ai có quyền riêng trên tài sản đó nếu không được người mất giao cho.
4. Phân chia di sản thừa kế theo luật ?
Vào thời điểm ông Thành chết, xác định tài sản của ông Thành là 280 triệu đồng. Vậy di sản của ông Thành được chia như thế nào nếu :
A/ ông Thành chết không để lại di chúc, A1 từ chối nhận di sản thừa kế theo pháp luật.
B/ Giả sử trước đó ông Thành có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản của mình cho A1.
Em xin chân thành cảm ơn!
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Mặc dù vợ chồng ông Thành và bà Lan đã ly thân nhưng chưa ly hôn nên hôn nhân vẫn tồn tại và khi ông Thành mất, bà Lan vẫn được hưởng di sản thừa kế. Trong trường hợp hai vợ chồng đã chia tài sản chung nhưng chưa ly hôn thì bà Lan vẫn được hưởng di sản thừa kế.
"1. Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản."
A/ ông Thành chết không để lại di chúc, A1 từ chối nhận di sản thừa kế theo pháp luật.
Vì ông Thành mất không để lại di chúc nên vợ ông Thành và các con được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.
Từ quy định trên, những người được thừa kế tài sản 280 triệu của ông Thành gồm:
- Vợ là bà Lan.
- Con A1: do A1 từ chối nên A1 sẽ không được hưởng di sản thừa kế.
- Con A2.
Như vậy, bà Lan và con A2 mỗi người được hưởng 1/2 số di sản thừa kế.
B/ Giả sử trước đó ông Thành có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản của mình cho A1.
Nếu di chúc của ông Thành hợp pháp, đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Bộ luật dân sự 2015
"1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
............
Số tài sản đó sẽ được chia như sau:
Như vậy, ngoài A1 ra thì bà Lan sẽ được hưởng 2/3 số tài sản được thừa kế của một người thừa kế theo pháp luật, gồm bà Lan, A1, A2. Khi đó A1 sẽ phải chia số tài sản đó cho bàn Lan trừ khi bà Lan từ chối hưởng di sản này.
5. Tư vấn chia di sản thừa kế theo di chúc ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
Ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp có tài sản chung là 600 triệu. Bà B có tài sản riêng là 180 triệu, có con chung là C (15 tuổi) và D (17 tuổi). Bà B có con riêng là E ( 20t ).
TH1: Trước khi chết bà B đã lập di chúc cho M (em họ) 50 triệu, quỹ từ thiện 50 triệu.
Tài sản của bà B là: 600/2 + 180 = 480 triệu đồng
Chia tài sản theo di chúc : M = QUỸ TỪ THIỆN = 50 triệu đồng
Tài sản của bà B còn lại : 480 - 50 - 50 = 380 triệu đồng
Chia theo pháp luật: A= C= D = E = 380 : 4 = 95 triệu đồng
TH2: Trước khi chết bà B đã lập di chúc cho M (em họ) 100 triệu, quỹ từ thiện 200 triệu.
Tài sản của bà B là : 600/2 + 180 = 480 triệu đồng.
- Chia tài sản theo di chúc: M = 100 triệu đồng; Qũy từ thiện = 200 triệu đồng
- Tài sản của bà B còn lại: 480 - 100 - 200 = 180 triệu đồng
- Chia theo pháp luật : A = C = D = E = 180 : 4 = 45 triệu đồng