Nhập từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...
Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định khoản 3 điều 7 bộ luật hình sự 2015
- Tóm tắt
- Nội dung
- Lược đồ
- Hiệu lực
- VB liên quan
- Tải về
Thuộc tính Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP
| Số hiệu: | 01/2016/NQ-HĐTP | Loại văn bản: | Nghị quyết |
| Cơ quan ban hành: | Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao | Người ký: | Nguyễn Hòa Bình |
| Ngày ban hành: | 30/06/2016 | Ngày có hiệu lực: | 01/08/2016 |
| Tình trạng hiệu lực: | Còn hiệu lực | Ngày hết hiệu lực: | |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
Tóm tắt văn bản
Ngày 30 tháng 6 năm 2016, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.
Tải Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP
|
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 01/2016/NQ-HĐTP |
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2016 |
NGHỊ QUYẾT
HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 3 ĐIỀU 7 BỘ LUẬTHÌNH SỰ SỐ 100/2015/QH13
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27tháng 11 năm 2015;
Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Về việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội mà Bộ luật hình sự số100/2015/QH13 đã bỏ hình phạt tử hình
1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ), khi xét xử sơ thẩm hoặcxét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội cướp tàisản (Điều 133), tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm (Điều157), tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 194), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194), tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia(Điều 231), tội chống mệnh lệnh (Điều 316) và tội đầu hàng địch (Điều 322) Bộluật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12 ).
Trường hợp khi xét xử sơ thẩm hoặcxét xử phúc thẩm, nếu xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theoquy định của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số37/2009/QH12) phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hìnhthì không xử phạt tử hình mà xử phạt người phạm tội hình phạt tù chung thân.
2. Trường hợp hình phạt tử hìnhđã tuyên trước ngày 09 tháng 12 năm 2015 đối với người phạm tội mà Bộ luật hìnhsự số 100/2015/QH13 đã bỏ hình phạt tử hình và bản án đã có hiệu lực pháp luậtnhưng chưa thi hành án tử hình thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm báo cáongay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao raquyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Điều 2. Về việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13
1. Kể từ ngày 09tháng 12 năm 2015, người đã bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hốilộ và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành án tử hình mà thuộc mộttrong các trường hợp sau đây thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chungthân:
a) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ độngnộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực vớicơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm;
b) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ độngnộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và lập công lớn.
2. “Chủ động nộplại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ” là sau khi bị kết án tửhình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án đã chủ động nộp lạiít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ hoặc người bị kết án đã tích cựctác động để cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em và những người khác khắc phụchậu quả và những người này đã thực hiện việc nộp lại ít nhất ba phần tư giá trịtài sản mà người bị kết án đã tham ô, nhận hối lộ.
3. “Hợp táctích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm” làsau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kếtán chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc pháthiện, điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án (như: chỉđúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vậtchứng đó;khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn;khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị kếtán...). Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp kháclà “hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xửlý tội phạm” nhưng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.
4. “Lập công lớn”là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kếtán đã giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tộiphạm không liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án; cứu được người khác trongtình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lêncủa Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiệnbất khả kháng khác; có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn đượccác cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Ngoài những trường hợp nêu trên,có thể xác định những trường hợp khác là “lập công lớn” nhưng phải đượccác cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.
5. Đối với người bịkết án tử hình thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này,Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm chủ trì, phối hợp với Cơ quan Công an, Việnkiểm sát, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp rà soát, báo cáo ngay Chánh ánTòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyểnhình phạt tử hình thành tù chung thân.
Điều 3. Về việc không xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi màBộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số37/2009/QH12) quy định là tội phạm nhưng Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 khôngquy định là tội phạm
1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015, không xử lýhình sự đối với các trường hợp quy định tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghịquyết số 109/2015/QH13 và những trường hợp sau đây:
a)Ngườithực hiện hành vi mà theo quy định của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) là tội phạm nhưng theoquy định của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 thì hành vi đó chưa cấu thành tộiphạm do có bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm đó.
Ví dụ 1: Một người chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chấtma túy, chưa bị kết án về tội tàng trữ trái phép chấtma túy hoặc đã bị kết án về tội tàng trữ trái phépchất ma túy nhưng đã được xóa án tích mà có hành vitàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng hoặc thể tích dưới mức quy định tạimột trong các điểm từ điểm b đến điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự số100/2015/QH13 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phépchất ma túy.
Ví dụ 2: Một người chưa bị xử phạt vi phạm hành chínhđánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, chưa bị kết án về tội đánhbạc hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổchức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích mà có hànhvi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thuabằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng thì không phải chịutrách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.
b) Người thực hiện hành vi chuẩnbị phạm các tội trừ các tội danh quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật hình sự số100/2015/QH13 .
2. Đốivới các trường hợp hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, nếu vụ ánđang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 Bộluật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theoLuật số 37/2009/QH12)miễn trách nhiệm hình sự đối vớingười phạm tội; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đangđược tạm đình chỉ thi hành án thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại;trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thihành án thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
Nhữngngười đã chấp hành xong hình phạt, được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặchình phạt còn lại thì đương nhiên được xóa án tích.
Điều 4. Về việc xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
1. Kểtừ ngày 09 tháng 12 năm 2015 đến ngày Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệulực thi hành, chỉ áp dụng quy định củaBộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) để xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạmthỏa mãn quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12)và khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 .
2. Kểtừ ngày Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, chỉ xử lý hình sựđối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm quy định tại khoản 2Điều 12 và điểm b, điểm c khoản 2 Điều 14 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 .
Điều 5. Về việc đình chỉ vụ án đối với các trường hợp quy định tạiđiểm d và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13
Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015,việc đình chỉ vụ án đối với các trường hợp quy định tạiđiểm d và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc xét xử tái thẩmđược thực hiện như sau:
1. Trường hợp Viện kiểm sát cóCông văn rút lại hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ trách nhiệm hình sự của bịcan mà Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy thuộc trường hợp quyđịnh tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 thìTòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 176 Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 (kể từ ngày Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có hiệu lực thi hành thìáp dụng điểm b khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13) raquyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát.
2. Trường hợp Viện kiểm sát cóCông văn (hoặc Quyết định) rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụán, thì Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên tòa áp dụng điểm d hoặc điểmđ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 , điểm c khoản 2 Điều 176, Điều 180và Điều 181 Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 (kể từ ngày Bộ luật tố tụnghình sự số 101/2015/QH13 có hiệu lực thi hành thì áp dụng điểm c khoản 1 Điều277, Điều 282 và Điều 285 Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13) ra quyết địnhđình chỉ vụ án.
3. Trường hợp Viện kiểm sát vẫngiữ nguyên quyết định truy tố thì Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiêntòa (nếu trong thời hạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (nếu tại phiêntòa sơ thẩm) áp dụng điểm d hoặc điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số109/2015/QH13 , khoản 2 Điều 107 và Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự số19/2003/QH11 (kể từ ngày Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có hiệu lựcthi hành thì áp dụng khoản 2 Điều 157 và Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự số101/2015/QH13) ra quyết định đình chỉ vụ án.
4. Trường hợp vụ án đang tronggiai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa và Hội đồngxét xử áp dụng điểm d hoặc điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ,khoản 2 Điều 107 và Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 (kể từngày Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có hiệu lực thi hành thì áp dụngkhoản 2 Điều 157 và Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13) quyết địnhhuỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.
5. Trường hợp đã có kháng nghịtheo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và vụ án đang trong giai đoạn xét xửgiám đốc thẩm hoặc xét xử tái thẩm thì Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm áp dụngđiểm d hoặc điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 , khoản 2 Điều 107và Điều 286 hoặc khoản 3 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 (kể từngày Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có hiệu lực thi hành thì áp dụngkhoản 2 Điều 157 và Điều 392 hoặc khoản 3 Điều 402 Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13)quyết định huỷ bản án đã có hiệu lực pháp luật, tuyên bị cáo không có tội vàđình chỉ vụ án.
6. Việc đình chỉ vụ án đối vớicác trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 là đình chỉ về trách nhiệm hình sự.Tòa án phải ghi rõ trong quyết định hoặc trong bản án lý do của việc đình chỉlà do chính sách hình sự mới nhân đạocủa Nhà nước, người được đình chỉ không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hạitheo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tòa án phải chuyểnquyết định hoặc bản án kèm theo hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính theo quyđịnh tại Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Việc xét xử về các tội phạm khácđối với người được đình chỉ, các bị cáo khác trong vụ án (nếu có) được giải quyếttheo thủ tục chung.
Điều 6. Về việc miễn chấp hành hình phạt đối với các trường hợp quy định tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 và hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này
Việc miễn chấp hành hình phạt đốivới các trường hợpquy định tại điểm d, điểm đ khoản2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 và hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản1 Điều 3 Nghị quyết này được thực hiện như sau:
1. Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tươngđương nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp hànhphần hình phạt còn lại đối với trường hợp người bị kết án đang chấp hành hìnhphạt tù hoặc đang thi hành án treo.
2. Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tươngđương nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc ra quyết định miễn chấp hành phầnhình phạt còn lại hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với trường hợp ngườibị kết án bị xử phạt tù đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, đang đượchoãn chấp hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt.
3. Chánh án Tòa án nhân dân huyện,quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Chánh án Tòa án quân sự khuvực nơi người bị kết án chấp hành hình phạt ra quyết định:
a) Miễn chấp hành phần hình phạtcòn lại đối với trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt cải tạokhông giam giữ;
b) Miễn chấp hành thời hạn cấm cưtrú hoặc thời hạn quản chế còn lại đối với trường hợp người bị kết án đang chấphành hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế.
4. Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Chánh án Tòa án quân sự khuvực nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc ra quyết định:
a) Miễn chấp hành thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, miễn chấp hành thờihạn tước một số quyền công dân còn lại đối với trường hợp người bị kết án đangchấp hành hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhấtđịnh, tước một số quyền công dân;
b) Miễn chấp hành phần hình phạtcòn lại hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với trường hợp người bị kếtán bị xử phạt bằng các hình phạt khác đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt,đang được hoãn chấp hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt.
5. Khi xem xét, quyết định việcmiễn chấp hành hình phạt cần chú ý một số nội dung sau:
a) Chỉ miễn chấp hành hình phạt(hình phạt chính và hình phạt bổ sung) đối với các trường hợp quy định tại điểmd, điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 và hướng dẫn tại điểm a,điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này; đối với các vấn đề khác, như: trách nhiệmbồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, xử lý vật chứng, án phí hình sự, án phídân sự... thì người được miễn chấp hành hình phạt vẫn phải thi hành;
b) Trường hợp một người bị kếtán về nhiều tội (trong cùng một bản án hoặc trong nhiều bản án) trong đó có tộimà Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 không quy định là tội phạm (thuộc các trườnghợp hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này) thì việc miễn chấp hành hìnhphạt đối với tội này được thực hiện như sau:
Trường hợp người bị kết án chưachấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với tội mà Bộluật hình sự số 100/2015/QH13 không quy định là tội phạm (thuộc các trường hợphướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này).
Trường hợp người bị kết án đã chấphành một phần hình phạt chung hoặc đang chấp hành hình phạt mà thời gian đã chấphành hình phạt chưa vượt quá mức hình phạt mà Tòa án đã xử phạt đối với tộikhông được miễn chấp hành hình phạt, thì người bị kết án được miễn chấp hànhtoàn bộ hình phạt đối với tội mà Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 không quy địnhlà tội phạm (thuộc các trường hợp hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này).
Trường hợp người bị kết án đã chấphành một phần hình phạt chung hoặc đang chấp hành hình phạt mà thời gian đã chấphành hình phạt bằng hoặc vượt quá mức hình phạt mà Tòa án đã xử phạt đối với tộikhông được miễn chấp hành hình phạt thì người bị kết án được miễn chấp hành phầnhình phạt còn lại.
c)Khi miễn chấp hànhhình phạt, Tòa án phải ghi rõ trong quyết định miễn chấp hành hình phạt lý do củaviệc miễn chấp hành hình phạt là do chínhsách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, người được miễn chấp hành hình phạtkhông có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệmbồi thường của Nhà nước;
d)Việcmiễn chấp hành hình phạt theo hướng dẫn tại Điều này chỉ được tiến hành đối vớingười bị kết án trước ngày 09 tháng 12 năm 2015. Đối với các đối tượng thuộccác trường hợp quy định tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số109/2015/QH13 và hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này màbị kết án kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015 thì không thực hiện việc miễn chấphành hình phạt đối với họ mà phải xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật đối với họ theo thủ tục giám đốc thẩm.
Điều 7. Hiệulực thi hành
Nghị quyết này đã được Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2016 và có hiệulực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2016.
Điều 8. Tổchức thực hiện
1. Chánh án Tòa án nhân dân vàTòa án quân sự các cấp; Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tổ chứctriển khai, quán triệt Nghị quyết này trong cơ quan, đơn vị mình nhằm bảo đảmcho việc thi hành đúng và thống nhất.
2. Chánh án Tòa án nhân dân vàTòa án quân sự các cấp chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát và Cơ quan thi hànhán hình sự có thẩm quyền rà soát, lập danh sách người được miễn chấp hành hìnhphạt theo quy định tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 1Nghị quyết số 109/2015/QH13 vàhướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyếtnày để làm cơ sở xem xét, quyết định miễn chấp hành hình phạt.
3. Đối với các đối tượng đượcđình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt theo quyđịnh tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 và hướngdẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết này mà đang bị truy nã thì Tòa án ra quyết địnhđình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt, đồng thời gửi quyết định này chocơ quan đã ra quyết định (lệnh) truy nã biết để ra ngay quyết định đình nã nếuhọ không bị truy nã về hành vi phạm tội khác.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN |
Lược đồ
Lược đồ văn bản giúp bạn xác định vị trí của văn bản hiện tại trong mối quan hệ với các văn bản liên quan, bao gồm các văn bản ban hành trước và sau, từ đó nắm bắt nhanh các quy định hiện hành và các quy định đã được ban hành trước và sau.
Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định khoản 3 điều 7 bộ luật hình sự 2015
Cơ quan ban hành: Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao
Số hiệu: 01/2016/NQ-HĐTP
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 30/06/2016
Lĩnh vực: Hình sự
Người ký: Nguyễn Hòa Bình
Hiệu lực
Cung cấp thông tin về văn bản gồm ngày ban hành, ngày có hiệu lực, ngày hết hiệu lực, trạng thái hiệu lực của văn bản, cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bị sửa đổi, bổ sung, thay thế bởi văn bản này.
Văn bản liên quan
Tổng hợp toàn bộ các văn bản có liên quan đến Văn bản đang xem, phân loại để dễ theo dõi danh mục văn bản theo từng kiểu liên quan đến Văn bản đang xem.