1. Giấy tờ có giá là gì?
Giấy tờ có giá là một trong những thuật ngữ mà chúng ta nhắc đến khá là phổ biến hiện nay. Có rất nhiều văn bản pháp luật đã đề cập về giấy tờ có giá. Cụ thể như sau:
Theo Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 có quy định về giấy tờ có giá, theo đó thì tại khoản 8 Điều 6 có quy định rằng: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác. Ngoài ra thì cũng có quy định thêm về các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
Tại Bộ luật Dân sự 2015 thì giấy tờ có giá cũng được đề cập đến tuy nhiên thì Bộ Luật Dân sự 2015 không có đưa ra một khái niệm cụ thể nào về giấy tờ có giá cả. Theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản". Như vậy, giấy tờ có giá là một loại tài sản theo luật dân sự.
Tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN thì giấy tờ có giá lại là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sử dụng giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác. Theo đó thì có giấy tờ có giá dài hạn và giấy tờ có giá ngắn hạn
- Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên kể từ khi phát hành đến khi đến hạn thanh toán.
- Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm kể từ khi phát hành đến khi đến hạn thanh toán
2. Quy định của pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá.
Chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ Ngân hàng Nhà nước mua ngắn hạn các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước khi đến hạn thanh toán (sau đây gọi tắt là chiết khấu).
Theo quy định tại Điều 6 của Thông tư 01/2012/TT-NHNN thì tiêu chuẩn giấy tờ có giá được chiết khấu tại Ngân hàng nhà nước bao gồm các tiêu chuẩn như sau:
- Được phát hành bằng đồng Việt Nam (VND)
- Đước phép chuyển nhượng
- Thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đề nghị chiết khấu.
- Không phải là giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đề nghị chiết khấu phát hành;
- Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá là 91 ngày đối với trường hợp chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá;
- Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng Nhà nước chiết khấu đối với trường hợp chiết khấu có kỳ hạn.
Và danh mục giấy tờ có giá được chiết khấu thì do Thống đốc Ngân hàng nhà nước quy định trong từng thời ký. Ngày giao dịch trong nghiệp vụ chiết khấu là ngày làm việc. Trong trường hợp mà ngày đáo hạn chiết khấu trùng vào nghỉ, ngày lễ thì ngày đáo hạn chiết khấu được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo.
Về điều kiện thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thì tại Điều 8 Thông tư 01/2012/TT-NHNN có quy định cụ thể như sau: Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia nghiệp vụ chiết khấu phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Là các tổ chức tín dụng không bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
- Không có nợ quá hạn tại Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm đề nghị chiết khấu.
- Có tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh được ủy quyền) thực hiện chiết khấu.
- Có hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá gửi Ngân hàng Nhà nước đúng hạn theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Thông tư này.
- Có giấy tờ có giá đủ điều kiện và thuộc danh mục các giấy tờ có giá được chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước.
- Trường hợp giao dịch theo phương thức gián tiếp, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị tin học, đường truyền và kết nối với hệ thống máy chủ tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch và Cục Công nghệ tin học).
Căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ trong từng thời kỳ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định tổng hạn mức chiết khấu đối với lĩnh vực Ngân hàng Nhà nước ưu tiên chiết khấu cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chậm nhất vào ngày 15 tháng đầu tiên hàng quý, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gửi 01 bộ hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá qua đường bưu điện, fax hoặc nộp trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước (Vụ Tín dụng) để làm cơ sở xác định và thông báo hạn mức chiết khấu cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong quý. Căn cứ hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, chậm nhất vào ngày 20 tháng đầu tiên hàng quý, Ngân hàng Nhà nước thực hiện phân bổ và thông báo hạn mức chiết khấu cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đề nghị theo Mẫu số 03/NHNN-CK
3. Vé số có phải là giấy tờ có giá không
Quy định về giấy tờ có giá thì tại khoản 2 và khoản 3 của Thông tư 01/2012/TT-NHNN, theo đó thì giấy tờ có giá bao gồm hai loại đó là giấy tờ có giá dài hạn và giấy tờ có giá ngắn hạn.
- Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên kể từ khi phát hành đến khi đến hạn thanh toán.
- Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm kể từ khi phát hành đến khi đến hạn thanh toán.
Bên cạnh đó thì tại Công văn 141/TANDTC- KHXX ngày 21 tháng 09 năm 2011 có quy định về các loại giấy tờ có giá bao gồm:
- Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác
- Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu
-- Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ;
- Các loại chứng khoán :
+ Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
+ Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;
+ Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác ;
- Trái phiếu doanh nghiệp.
Theo đó thì công văn cũng nêu rõ một số giấy tờ không phải giấy tờ có giá như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy đăng ký mua xe ô tô, xe máy,.....
Như vậy thì căn cứ theo những quy định trên thì vé số không phải là giấy tờ có giá theo quy định của pháp luật.
Các bạn còn có thể tham khảo một số bài viết sau đây:
Giấy tờ có giá là gì? Lưu ý khi sử dụng các loại giấy tờ có giá?
Giấy tờ có giá là gì? Quy định của pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá?
Giấy tờ có giá là gì? Hình thức phát hành giấy tờ có giá và thanh toán giấy tờ có giá là gì?
Trên đây là toàn bộ nội dung thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến giấy tờ có giá và đi trả lời cho câu hỏi vé số có phải là giấy tờ có giá hay không. Mong rằng với những nội dung mà chúng tôi cung cấp ở trên đã giúp cho các bạn có thêm thật nhiều những thông tin hữu ích về giấy tờ có giá. Nếu các bạn còn có những thắc mắc khác có liên quan thì liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài 19006162 hoặc qua email lienhe@luatminhkhue.vn