1. Căn cứ ban hành quyết định thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Xuất phát từ thực tế cho thấy, việc tổ chức thực hiện các quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp trong nhiều năm qua ở nước ta đã phát sinh những hạn chế, bất cập:

Theo quy định trước đây, mô hình thực hiện quyền chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn phân tán. Cụ thể, quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước được giao cho các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Chính việc phân chia chức năng chủ sở hữu phân tán cho nhiều cơ quan như vậy, dẫn tới các vấn đề vướng mắc và lúng túng trong sự phối hợp giữa các cơ quan, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý, gây khó khăn cho tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước.

Bộ máy thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu chủ yếu là kiêm nhiệm, chưa chuyên trách, không theo kịp với yêu cầu của thực tiễn quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.

Mặc dù mô hình tổ chức thực hiện các quyền và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở nước ta đã được đổi mới, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cụ thể, mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) dù đã góp phần thay đổi phương thức quản lý vốn nhà nước - chuyển từ cơ chế hành chính sang phương thức đầu tư kinh doanh vốn, nhưng SCIC vẫn chủ yếu thực hiện thoái vốn, bán vốn nhà nước; chưa thực hiện được nhiệm vụ đầu tư phát triển vốn nhà nước như kỳ vọng.

Chính sự phân tán và thiếu chuyên biệt trong quản lý vốn nhà nước đã dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm 2012 là 16,4%; năm 2013 là 15,8% đến năm 2017 chỉ còn 12,2%. Đặc biệt, tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ hàng năm không giảm, luôn có 20% doanh nghiệp nhà nước hoạt động không có lợi nhuận. Năm 2017, doanh nghiệp nhà nước chiếm 29% nguồn vốn kinh doanh nhưng chỉ tạo ra 16% doanh thu thuần.

Qua đó, việc thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở là phù hợp với các chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước. Các nghị quyết, kết luận của Đại hội Đảng đã nhiều lần yêu cầu tách chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý nhà nước và hình thành bộ máy chuyên trách thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Cụ thể, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã yêu cầu: "Chậm nhất đến năm 2018, thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp".

2. Vị trí của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Việc hình thành Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp - cơ quan chuyên trách, chuyên nghiệp, có năng lực và nguồn lực tương xứng để tập trung chức năng quản lý, đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp - là yêu cầu khách quan và cần thiết. Khác với những mô hình đã có trước đó, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan chuyên trách thuộc Chính phủ. Ủy ban được giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định.

Đồng thời với việc ban hành Quyết định thành lập Ủy ban, 19 tập đoàn, tổng công ty lớn đã được giao cho Ủy ban trực tiếp làm đại diện chủ sở hữu, trong đó có những tập đoàn, tổng công ty trước đây do Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan đại diện, như: Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (từng thuộc Bộ Tài chính), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (từng thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông),...

Tuy nhiên cũng cần lưu ý, việc thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc xóa bỏ cơ chế đại diện cũ đang tồn tại. Các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vẫn đóng vai trò là cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Và phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp do Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc được giao quản lý không thuộc đối tượng chuyển giao về Ủy ban và SCIC hay những doanh nghiệp trong thời gian chưa chuyển giao. Ngoài ra, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước vẫn thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng hoạt động với tư cách là một doanh nghiệp do Ủy ban trực tiếp làm đại diện.

3. Vai trò của Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Ủy ban vừa là cơ quan thuộc Chính phủ, vừa là cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Do đó, Ủy ban đảm nhiệm hai nhóm nhiệm vụ và quyền hạn chính:

Một là, với tư cách một cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban có các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Điều 3 Nghị định số 10/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 1/2/2016 quy định về cơ quan thuộc Chính phủ và Điều 6 Nghị định số 131/2018/NĐ-CP, bao gồm: đề xuất Chính phủ việc thành lập mới, tổ chức lại, giải thể các tổ chức, đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ủy ban; thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, nghỉ hưu, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ khác đối với công chức, viên chức, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu; lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm; kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước trung hạn; quyết định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền đầu tư của Ủy ban;…

Hai là, với tư cách một cơ quan đại diện chủ sở hữu. Với mỗi nhóm doanh nghiệp có vốn góp nhà nước khác nhau thì thẩm quyền của ủy ban với tư cách là cơ quan đại diện chủ sở hữu cũng được quy định không giống nhau, căn cứ theo các quy định - Luật Doanh nghiệp (2014), Luật Quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (2014), Nghị định số 10/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/1/2019 về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước; Điều 4, Điều 5 Nghị định số 131/2018/NĐ-CP - có thể thấy Ủy ban có các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản sau: Đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện các quyền, trách nhiệm đối với doanh nghiệp do Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu (như quyết định đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp, quyết định tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể và yêu cầu phá sản doanh nghiệp); quyết định và điều chỉnh vốn điều lệ của doanh nghiệp. Ủy ban còn đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại các doanh nghiệp theo như quy định và điều chỉnh vốn điều lệ của doanh nghiệp, sửa đổi, ban hành điều lệ doanh nghiệp, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển, việc tuyển dụng lao động, thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật,…

Khi bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, một vấn đề được đặt ra là mối quan hệ giữa Ủy ban với các Bộ và cơ quan ngang Bộ có dẫn tới tình trạng chồng chéo trong quản lý hay không. Trước đây, các Bộ ngành vừa thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Hiện nay, cùng với sự ra đời của Ủy ban, hai chức năng này đã được tách biệt riêng. Ủy ban chỉ thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của một cơ quan đại diện chủ sở hữu, còn các bộ quản lý ngành tiếp tục chủ trì các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực được phân công.

Cũng cần lưu ý là nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban cũng không dừng lại ở việc đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước như SCIC. Ủy ban được thành lập thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước, quản lý phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà không can thiệp vào việc sản xuất kinh doanh - thuộc thẩm quyền được quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp. Ủy ban không phải là nhà kinh doanh mà là nhà đầu tư vào doanh nghiệp và phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ sở hữu, cổ đông, thành viên doanh nghiệp.

4. Các tập đoàn, tổng công ty được chuyển giao về Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp như thế nào?

- Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định ban hành Quy chế về trình tự, thủ tục, hồ sơ chuyển giao quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Thứ nhất: Chuyển giao nguyên trạng

- Theo đó, đối tượng chuyển giao là các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, phần vốn mà nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp theo quy định, gồm: Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam; Tập đoàn Hóa chất Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

- Cùng với đó là Tổng công ty Viễn thông MobiFone; Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam; Tổng công ty Hàng không Việt Nam; Tổng công ty Hàng hải Việt Nam; Tổng công ty Đường sắt Việt Nam; Tổng công ty Đầu tư và phát triển đường cao tốc Việt Nam; Tổng công ty Cảng Hàng không Việt Nam; Tổng công ty Cà phê Việt Nam; Tổng công ty Lương thực miền Nam; Tổng công ty Lương thực miền Bắc; Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam; các doanh nghiệp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Việc bàn giao hồ sơ liên quan đến quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ Cơ quan chuyển giao về Ủy ban theo nguyên tắc bàn giao nguyên trạng đối với từng doanh nghiệp chuyển giao, phần vốn nhà nước chuyển giao.

- Số liệu của hồ sơ bàn giao là số liệu báo cáo tài chính quý, năm của doanh nghiệp được lập gần nhất với thời điểm chuyển giao trong thời hạn chuyển giao theo quy định tại Nghị định 131/2018/NĐ-CP; số liệu về nhân sự là Người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên, Người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp hiện có tại thời điểm chuyển giao.

- Quá trình thực hiện chuyển giao phải đảm bảo nguyên tắc phân công trách nhiệm quản lý doanh nghiệp trong quá trình chuyển tiếp theo quy định tại Điều 3 Nghị định 131/2018/NĐ-CP của Chính phủ, đồng thời phải đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm; có kế thừa tiến độ sắp xếp, chuyển đổi, cơ cấu lại vốn của doanh nghiệp; có sự phối hợp giữa các bên để cùng xử lý các vấn đề phát sinh trong và sau quá trình chuyển giao theo quy định của pháp luật.

- Đối với doanh nghiệp nhà nước đang thực hiện cổ phần hóa hoặc đối với phần vốn nhà nước đang thực hiện chuyển nhượng thì nội dung chuyển giao phải bao gồm kết quả công việc đã thực hiện liên quan đến cổ phần hóa doanh nghiệp và chuyển nhượng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Ủy ban có trách nhiệm tiếp tục chỉ đạo doanh nghiệp triển khai các bước công việc còn lại của quy trình cổ phần hóa, trình tự thực hiện chuyển nhượng vốn nhà nước theo quy định.

- Người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên, Người đại diện vốn nhà nước đương nhiệm tại thời điểm chuyển giao có trách nhiệm tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật trong quá trình chuyển giao.

- Ủy ban chủ trì, phối hợp với Cơ quan chuyển giao có trách nhiệm đảm bảo quyền lợi về tiền lương, tiền thưởng cho Người đại diện vốn nhà nước, Kiểm soát viên từ nguồn do doanh nghiệp chi trả trong quá trình thực hiện chuyển giao. Cơ quan chuyển giao có trách nhiệm xác định số tiền dư quỹ chung về tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các lợi ích khác của Người đại diện vốn nhà nước, Kiểm soát viên do doanh nghiệp chi trả đến thời điểm ký Biên bản chuyển giao để chuyển Ủy ban tiếp nhận, quản lý, sử dụng theo quy định.

Thứ hai: Thực hiện chuyển giao trong 45 ngày

- Quyết định nêu rõ, bên giao là Người đứng đầu hoặc cấp phó được Người đứng đầu Cơ quan chuyển giao ủy quyền bằng văn bản. Bên nhận là Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc cấp phó được ủy quyền bằng văn bản.

- Về thời gian thực hiện chuyển giao, cơ quan chuyển giao có trách nhiệm thực hiện các bước công việc chuyển giao để Ủy ban tiếp nhận quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu tại các doanh nghiệp trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày Nghị định 131/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.

- Trong quá trình chuyển giao, trường hợp bất khả kháng do thiên tai, hỏa hoạn, bạo động, đình công, Cơ quan chuyển giao căn cứ tình hình thực tế khắc phục hậu quả, báo cáo. Thủ tướng Chính phủ quyết định thời hạn chuyển giao.

- Trường hợp do điều kiện, hoàn cảnh khách quan về thay đổi quy định của Nhà nước nên công tác chuyển giao không thể thực hiện theo đúng thời hạn nêu trên, Cơ quan chuyển giao kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cho phép kéo dài thời gian nhưng tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày hết hạn chuyển giao theo quy định nêu trên.

5. Tình hình phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp thuộc Ủy ban quản lý vốn

Hiện nay, Ủy ban đang thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đối với 19 tập đoàn, tổng công ty, trong đó 12 tập đoàn, tổng công ty do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, gồm: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba), Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR), Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Viễn thông Mobifone (Mobifone), Tổng công ty Lương thực Miền Bắc (Vinafoodl), Tổng công ty Cà phê Việt Nam (Vinacafe) và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).

Trong số 12 tập đoàn, tổng công ty nêu trên, có 06 tập đoàn, tổng công ty đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phưong án cơ cấu lại, gồm: EVN, TKV, VNPT, Vinachem, Vinafoodl, SCIC và 01 Tổng công ty do Bộ Thông tin và Truyền thông phê duyệt là Mobifone.

05 tập đoàn, tổng công ty hiện đang là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ chưa được phê duyệt phương án cơ cấu lại theo Quyết định 707/QĐ-TTg, tình hình triển khai như sau:

(1) Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN): Căn cứ công văn số 1182/TTg-ĐMDN ngày 11/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục doanh nghiệp thuộc PVN thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn giai đoạn 2017-2020, Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các Bộ ngành liên quan và PVN xây dựng Đề án tái cơ cấu toàn diện PVN giai đoạn 2017-2020. PVN đã cơ bản hoàn thiện việc xây dựng Đe án trình Bộ Công Thương. Tuy nhiên, do có sự chuyến giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại PVN từ Bộ Công Thương về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nên tính đến nay, Bộ Công Thương chưa trình Thủ tướng Chính phủ.

(2) Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC): Ngày 20/9/2018, Văn phòng Chính phủ có công văn số 9041/VPCP-ĐMDN về việc phương án tố chức lại Tống công ty Đầu tư phát triển và quản lý dự án hạ tầng giao thông Cừu Long (CIPM) theo đó, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đồng ý chủ trương tổ chức lại CIPM theo hướng sáp nhập vào VEC. Hiện nay, VEC đang phối họp với các cơ quan liên quan đế triển khai thực hiện, Ủy ban sẽ tiếp tục đề nghị VEC khẩn trương thực hiện xây dựng phương án cơ cấu lại doanh nghiệp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

(3) Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR): Theo báo cáo của VNR, dự thảo Đề án cơ cấu lại VNR đã được xây dựng và báo cáo Bộ Giao thông vận tải. Đề án đã được Bộ Giao thông vận tải tổ chức họp nhiều lần đế phân tích, đánh giá và tổng công ty đã tiếp thu, hoàn thiện Đề án tại Tờ trình số 3052/TTr-ĐS ngày 14/9/2018 (trình lần thứ 3). Tuy nhiên, do có sự chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại VNR từ Bộ Giao thông vận tải về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nên Bộ Giao thông vận tải chưa trình Thủ tướng Chính phủ. Ngày 21/3/2019, tổng công ty đã trình Ủy ban dự thảo Đe án đã được hoàn thiện tại Tờ trình số 686/TTr- ĐS. Hiện dự thảo Đề án đang được Ủy ban xem xét và sẽ trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2019.

(4) Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (Vinataba): Tại Thông báo số 89/TB- VPCP ngày 16/6/2018 của Văn phòng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ về vướng mắc, kiến nghị khi cổ phần hóa Công ty mẹ - Vinataba, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương thực hiện cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Thuốc lá Thăng Long (sau khi hoàn thành chương trình tổng thể đầu tư, di dời Công ty) và Công ty TNHH MTV Thuốc lá Sài Gòn theo đúng quy định; tạm dừng cổ phần hóa Vinataba. Do đó, trước mắt việc thực hiện cơ cấu lại Vinataba sẽ thực hiện cùng phương án cổ phần hóa 02 Công ty nêu trên.

(5) Tổng công ty Cà phê Việt Nam (Vinacafe): Theo kế hoạch, Vinacafe sẽ thực hiện cổ phần hóa trong giai đoạn 2019 - 2020, do đó việc cơ cấu lại doanh nghiệp sẽ thực hiện cùng việc cổ phần hóa Vinacafe.

6. Về tình hình cổ phần hóa của các doanh nghiệp thuộc Ủy ban quản lý vốn

Ủy ban đã có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc điều chỉnh, sửa đổi danh mục doanh nghiệp cổ phần hóa giai đoạn 2016-2020. Theo đó, Ủy ban đã thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư việc điều chỉnh lộ trình cổ phần hóa 06 doanh nghiệp (Vinachem, VNPT, TKV, Vinacafe, Vinafoodl, MobiFone) thực hiện trong giai đoạn 2019-2020. Tuy nhiên, phải hoàn thành việc sắp xếp lại, xử lý cơ sở nhà, đất của các doanh nghiệp (bao gồm các doanh nghiệp có vốn góp của doanh nghiệp cổ phần hóa) trước khi thực hiện các bước tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp theo quy định. Do đó, việc cổ phần hóa đúng tiến độ đối với các doanh nghiệp nêu trên sẽ rất khó khăn trong bối cảnh không còn nhiều thời gian để thực hiện. Tính đến thời điểm hiện nay, cả 06 doanh nghiệp nêu trên vẫn đang trong quá trình chuấn bị các thủ tục đê hoàn thiện các trình cấp có thẩm quyền ban hành quyết định cổ phần hóa.

Bên cạnh đó, Ủy ban cũng đề nghị đối với 05 doanh nghiệp thuộc EVN (gồm các Tổng công ty Điện lực: Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam, Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) không đưa vào Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa giai đoạn 2019 - 2020; Đối với 02 doanh nghiệp thuộc PVN (Tổng công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí và Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thỦy Dung Quất) thực hiện theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

7. Về tình hình thoải vốn của các doanh nghiệp thuộc Ủy ban quản lý vốn

Ủy ban cũng đã có ý kiến gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với dự thảo Quyết định sủa đổi Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 17/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn 2017-2020. Tại văn bản nêu trên, Ủy ban đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư kế hoạch thoái vốn của 03 doanh nghiệp gồm: Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), và Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA) sẽ thực hiện thoái vốn theo quyết định riêng của Thủ tướng Chính phủ thay vì thực hiện theo quy định tại Quyết đinh số 1232/QĐ-TTg.

Ngoài ra Ủy ban đề nghị bổ sung danh mục 162 doanh nghiệp thuộc diện chuyển giao về SCIC vào dự thảo Quyết định sửa đổi Quyết định số 1232/QĐ-TTg.