1.Phát huy tính tự học

Luật sư thường là cử nhân luật, qua đào tạo nghiệp vụ luật sư và được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Như vậy, mặt bằng chung kiến thức của mỗi luật sư về hình thức là như nhau. Tuy nhiên, có luật sư hành nghề có uy tín, có nhiều khách hàng,
nhưng cũng có luật sư tuy đang hành nghề nhưng rất ít khách hàng hoặc không có khách hàng. Thực tế này nói lên nhiều điều. Thứ nhất, có thể luật sư không tận tâm, tận lực với nghề; thứ hai, có thể luật sư chưa đáp ứng được những yêu cầu của công việc; thứ ba, có thể luật sư là người có tính cách không phù hợp với nghề... Vì vậy, để thành công trong nghề luật sư thì cần thiết phải có nhiều yếu tố, trong đó đòi hỏi quan trọng là bản thân luật sư phải có ý thức tự rèn luyện, tự tu dưỡng và phải rèn luyện không ngừng để thực hiện sứ mệnh của mình trong suốt cuộc đời... Như trên đã trình bày, mặt bằng chung về hình thức thì kiến thức của mỗi luật sư là như nhau theo sự nhìn nhận của xã hội, nhưng trên thực tế thì từng cá nhân luật sư được khách hàng đánh giá rất khác nhau thông qua công việc mà luật sư đã thể hiện trên thực tế.

2.Các yếu tố tạo nên danh tiếng và uy tín của luật sư

Một trong những yếu tố tạo thành danh tiếng và uy tín của luật sư là khả năng hùng biện. Khả năng hùng biện của luật sư có nhiều yếu tố cấu thành, nhưng quan trọng nhất và được coi là hạt nhân, đó là kiến thức của luật sư. Muốn có kiến thức trong thuật hùng biện, thì luật sư trước hết phải tự rèn luyện bản thần mình. Những vấn đề cơ bản cẩn phải được rèn luyện để phục vụ cho thuật hùng biện của luật sư là:

- Luôn luôn phải tự học, tự tìm hiểu và thực hành về tiếng Việt. Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia và là ngôn ngữ giao tiếp chính của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiếng Việt còn
được sử dụng trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tiếng Việt có ba phương ngữ chính: Bắc, Trung và Nam, có sự khác nhau về ngữ âm, một phần vể từ vựng. Tiếng Việt là một phương tiện quan trọng của thuật hùng biện, cho nên luật sư phải luôn luôn học cách nói tiếng Việt sao cho thật chính xác và chuẩn không những về thanh âm mà còn vê ngữ điệu. Cách biểu đạt quan điểm và tình cảm thông qua tiếng Việt chính xác, đúng ngữ cảnh và nội dung của sự việc luôn mang lại cho luật sư những thành công nhất định. Vì vậy, vốn tiếng Việt của luật sư phải phong phú, đa dạng và vốn từ vựng tiếng Việt mà luật sư sở hữu phong phú thì luật sư sẽ chủ động hơn trong lập luận. Ngôn ngữ tiếng Việt chuẩn xác, được biểu đạt bằng ngữ điệu, âm thanh rõ ràng thì người nghe sẽ hiểu được nội dung vấn đề mà luật sư trình bày. Khi thực hiện hùng biện, luật sư phải có ý thức về cách biểu đạt ngôn ngữ của mình sao cho mỗi từ, mỗi câu đểu đóng vai trò truyền tải một lượng thông tin nhất định, chính xác và phản ánh được nội dung đẩy đủ nhất trong vụ việc mà luật sư tham gia giải quyết. Sức mạnh và sự hấp dẫn của cách thể hiện ngôn ngữ mà luật sư là người thực hiện phải đặt đúng hoàn cảnh thì tác dụng của hùng biện càng có hiệu quả.

- Để thực hiện được thuật hùng biện đạt hiệu quả cao nhất, trước mỗi vụ việc mà luật sư tham gia giải quyết, luật sư phải nắm vững sự kiện và xác định được những yếu tố chính của sự kiện mà minh cần làm rõ để làm toát lên nội dung của sự kiện, đồng thời lựa chọn ngôn ngữ thể hiện nó. Chỉ khi luật sư nắm chắc nội dung của sự kiện, cảm nhận được cả những ý mà bản thân sự kiện toát ra, và hình dung được toàn bộ sự kiện để khi biện luận luật sư nên hạn chế nhìn vào văn bản đã viết sẵn. Phải luôn nhớ rằng, luật sư thể hiện trình độ hùng biện của mình, mà không phải là đọc lời phát biểu trong hội nghị. Khi trình bày vấn đề, luật sư cần tự tin và làm chủ kiến thức liên quan đến sự kiện, để biện luận một cách tự do, tự nhiên và làm chủ tuyệt đối thanh âm, ngữ điệu của giọng nói.

- Luật sư phải học trình bày vấn để một cách khoa học và khúc chiết. Kỹ thuật thể hiện ngôn từ phải luôn luôn được chú ý trong khi nói. Ngữ điệu của ngôn ngữ được dùng để thể hiện khi hùng biện phải có cung bậc theo tiết tấu và ý nghĩa của ngôn tù. Có điểm nhấn của cầu, liên câu và của toàn bài biện luận. Thang âm vực trong thể hiện ngôn từ của luật sư phải linh hoạt, năng động, phù hợp với nội dung hùng biện, cảm xúc và quan điểm của luật sư. Luật sư phải toàn tâm, toàn ý vào việc biện luận nhưng đồng thời phải luôn luôn tỉnh táo, làm chủ bản thân, làm chủ những vấn đề mình đang thể hiện. Muốn thực hiện tốt ý định này, không gì khác hơn là luật sư phải tự mình rèn luyện. Tự rèn luyện, tự học hỏi trong đời sống hiện thực, tự học hỏi trong sách báo, trong các sách chuyên khảo luật, tự học trong cuộc sống, tự tu dưỡng kiến thức trong các lĩnh vực văn hóa dân gian, văn hóa thành văn, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử, văn học, triết học, logic, sinh học, các kiến thức của khoa học tự nhiên và xã hội, những thành tựu của khoa học công nghệ, những thành tựu trong sản xuất, kinh doanh. Những kiến thức tổng hợp này cung cấp cho luật sư nguồn “nguyên liệu” có giá trị để luật sư lựa chọn khi biện luận. Phông văn hóa chung của luật sư càng sâu rộng thì càng trợ giúp cho thuật hùng biện của luật sư có hiệu quả. Khi hùng biện, luật sư không những thể hiện mình là một chuyên gia vê' pháp luật, mà trong một chừng mực nào đó luật sư còn có phong thái ung dung như một chính khách có uy tín, có cách diễn đạt tâm lý như nhà sư phạm và uyển chuyển như nghệ sĩ. Những yếu tố này đều phải do rèn luyện mà nên, không thể một sớm một chiều mà luật sư có ngay được.

- Khi biện luận, luật sư đã có kiến thức rộng về nhiều lĩnh vực là hết sức cần thiết. Nhưng luật sư còn cần phải có chủ đề hùng biện, lựa chọn ngôn ngữ hùng biện và phương thức hùng biện hợp lý. Ngôn ngữ của luật sư có thể dựa trên nhiều tri thức, nhưng khi thể hiện thì ngôn ngữ đó phải làm toát lên chủ đê' tư tưởng và mục đích của vấn đê' biện luận, để mọi người hiểu được luật sư đang thể hiện vê' vấn để gì. Trong khi hùng biện, luật sư phải xác định được những quan hệ phù hợp và đúng pháp luật, những quan hệ trái pháp luật và trái đạo đức xã hội như thế nào; để qua đó hội đồng xét xử hiểu được quan điểm của luật sư và những vấn đề được luật sư nêu ra, hội đồng cần phải chú ý trong việc nhận định và ra quyết định. Muốn đạt được điều này, luật sư phải tự mình học nói, học sử dụng ngôn ngữ và hiểu được ý nghĩa của ngôn ngữ trong những trường hợp cụ thể. Luật sư khi thực hiện hùng biện cần linh hoạt, năng động trong cách thể hiện ngôn ngữ để làm nổi bật quan điểm và chính kiến của mình. Luật sư cũng cần phải tránh những cầu, chữ khó hiểu, không phổ thông; nói bằng hình ảnh, ví von là cần thiết nhưng không được lạm dụng. Vì thuật hùng biện luôn luôn đạt hiệu quả nếu được dùng những ngôn từ phổ thông nhất, hiện đại và rõ nghĩa, giản dị nhất để mọi người đều có thể hiểu được và hiểu đúng. Những từ lóng, những từ hình ảnh, trừu tượng và những ví von nếu bị lạm dụng dễ dẫn đến hiểu nhầm, hiểu sai và lập luận thiếu chặt chẽ, từ đó hiệu quả hùng biện của luật sư bị giảm sút.

3. Rèn luyện về chuyên môn

Một người chỉ có thể nói được hay một vấn đê' khi đã nắm vững vấn để mình nói. Căn cứ vào những trải nghiệm của bản thân và bằng vốn sống của mình một người mới có thể thuyết phục được người khác. Người ta chỉ nói hay, nói đúng một sự kiện khi họ đã từng chứng kiến hoặc là người tham gia vào sự kiện đó.

Trong nghề luật sư, thuật hùng biện chỉ có thể đạt được theo ý muốn của luật sư, khi luật sư có kiến thức chuyên mồn sâu và rộng về các ngành luật. Kiến thức tổng hợp về các ngành luật sẽ phục vụ đắc lực cho thuật hùng biện của luật sư. Hay nói cách khác, muốn hùng biện để thuyết phục người khác thì luật sư phải là chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật nói chung. Vì những tranh chấp trong xã hội phát sinh một cách khách quan và khi giải quyết tranh chấp ở tòa án các cấp, ngoài việc luật sư phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực mình đang thực hiện, thì các ngành luật dân sự, hình sự, hành chính, lao động, thương mại, tài chính, ngân hàng..., luật sư cũng phải nắm vững thì mới có thể biện luận đạt được hiệu quả cao. Luật sư là chuyên gia pháp luật mang tính chuyên sâu và rộng, vì trách nhiệm của luật sư không những phải bảo vệ khách hàng của mình mà còn phải tuân thủ pháp luật một cách tuyệt đối. Những kiến thức pháp luật mà luật sư sở hữu kịp thời, đa dạng và có hệ thống là cơ sở vững chắc để luật sư thể hiện được thuật hùng biện, là nói hay, nói đúng và chủ động thể hiện bản lĩnh của mình.

Khi kiến thức pháp luật của luật sư vững vàng không những là cơ sở mà còn là động lực để luật sư tự tin hơn trong việc thể hiện ngồn ngữ trong hùng biện. Luật sư thể hiện quan điểm và trình độ chuyên môn của mình sẽ gây được ấn tượng cho người nghe, cho hội đồng xét xử và bên nào thua kiện, thắng kiện cũng an tâm vê' mặt tâm lý, tin tưởng vào tính nghiêm minh của pháp luật và sự công tâm của tòa án; tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải mà luật sư là người đã làm sáng tỏ.

4. Phải có thái độ khiêm tốn, chân thành

Vị thế của luật sư là người tham gia tố tụng, sức mạnh vốn có của luật sư chỉ là những luận cứ pháp lý vững chắc, sắc bén, không phải sức mạnh của quyền lực. Bản thân những lập luận có sức thuyết phục đã có giá trị cảm hóa, thuyết phục người nghe. Sức mạnh đó càng được nhân lên gấp bội khi nó được Luật sư thể hiện bằng một thái độ khiêm tốn, chân thành. Nhưng nếu lý luận đó đuợc thể hiện bằng một giọng cao ngạo, dạy bảo, dùng những ngôn ngữ mang tính chỉ trích cá nhân, hoặc nói mỉa mai, bóng gió… sẽ khiến người nghe cảm thấy khó chịu, thậm chí nếu họ cho rằng đã bị xúc phạm thì sự hùng biện – nếu có – sẽ giảm tác dụng của bài bào chữa. Thực tế lịch sử hùng iện đã có những bài học về sự thất bại của diễn giả khi họ bị những tiếng la ó, phản đối chỉ vì họ quá đề cao cái tôi (bản ngã) của mình, nhiều khi chẵng liên quan đến nội dung bài nói…

5. Xác định phạm vi và các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp

- Khái niệm đạo đức bao giờ cũng được thể hiện trong mối quan hệ giữa người với người. Đạo đức nghề nghiệp luật sư chính là tổng hợp các mối quan hệ giữa luật sư với các chủ thể có liên quan trong hoạt động nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội khác khi luật sư tham gia trong sinh hoạt xã hội. Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư bao gồm các quy phạm mang tính chất tùy nghi để luật sư có thể lựa chọn trong ứng xử hoặc mang tính chất cấm đoán, bắt buộc luật sư phải nghiêm chỉnh thi hành.

- Quy tắc có những quy tắc chung mang tính chất là những nghĩa vụ đạo đức cơ bản của luật sư và các quy tắc cụ thể điều chỉnh hành vi của luật sư khi tham gia các nhóm quan hệ xã hội trong hành nghề gồm : quan hệ với khách hàng; quan hệ với đồng nghiệp; quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác. Việc điều chỉnh về mặt đạo đức các nhóm quan hệ này chính là những yếu tố cấu thành nội dung cơ bản của Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư Việt Nam.