1. Bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị theo bộ luật cũ

Tham khảo nội dung liên quan: Tư vấn trình tự và thủ tục khởi kiện tại tòa án ?

Theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị.

Thẩm quyền rút kháng nghị không chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát đã kháng nghị mà còn do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên cũng có quyền rút kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới.

Vấn đề bổ sung, thay đổi kháng nghị, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng, nếu thời hạn kháng nghị chưa hết thì người có quyền kháng nghị có thể bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Cách hiểu như vậy hoàn toàn không trái với quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự, vì trong thời hạn kháng nghị có thể có nhiều kháng nghị khác nhau thậm chí trái ngược nhau.
Ví dụ: Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo nhưng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp lại kháng nghị theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo hoặc ngược lại, hoặc Viện kiểm sát cùng cấp đã rút kháng nghị nhưng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không rút kháng nghị thậm chỉ còn bổ sung, thay đổi kháng nghị. Mặt khác, cùng với kháng nghị vụ án có thể còn có kháng cáo của người tham gia tố tụng. Việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo cũng tương tự như kháng nghị và trong thời hạn kháng cáo thì người kháng cáo có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo theo bất cứ hướng nào5. Tuy nhiên, để việc bổ sung hoặc thay đổi kháng nghị có căn cứ pháp lý, thì trong quyết định bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo cần nêu lý do và nhận xét là kháng nghị trước đó không đầy đủ hoặc không có căn cứ. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nên để Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện, mặc dù Viện kiểm sát cùng cấp vẫn có quyền, nhưng để Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện còn nhận xét kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới chưa đầy đủ hoặc có thiếu sót như vậy vừa bảo đảm khách quan, vừa tránh được sự hiểu lầm không cần thiết.

Việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát có thể thực hiện bất cứ lúc nào, rút một phần hay toàn bộ kháng nghị. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới. Việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát nói chung không có vấn đề vướng mắc và cũng đã được quy định tương đối cụ thể trong Bộ luật TTHS. Tuy nhiên, hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự chưa có quy định, đối với quyết định rút kháng nghị của Viện kiểm sát rõ ràng không có căn cứ thì giải quyết như thế nào? Thực tiễn xét xử đã có trường hợp việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên rõ ràng là không có căn cứ nên việc việc khắc phục sai lầm của Toà án cấp sơ thẩm chỉ có thể được thực hiện theo thủ tục giám đốc thẩm. Cách giải quyết này vừa kéo dài vụ án vừa không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Ví dụ: Trường hợp Toà án nhân dân thành phố H phạt Quản Ngọc N tù chung thân về tội mua bán trái phép chất ma tuý; sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố H kháng nghị yêu cầu Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm tăng hình phạt đối với Quản Ngọc N, nhưng trước khi mở phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại rút kháng nghị. Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm thấy hình phạt tù chung thân đối với Quản Ngọc N là quá nhẹ nhưng buộc phải y án sơ thẩm. Sau khi xét xử phúc thẩm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy việc rút kháng nghị là không có căn cứ nên đã kháng nghị bản án phúc thẩm đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm huỷ cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng tăng hình phạt đối với Quản Ngọc N. Như vậy để sửa sai quyết định rút kháng nghị của Viện kiểm sát phải huỷ cả hai bản án mà lẽ ra nếu có quy định huỷ quyết định rút kháng nghị thì vụ án chỉ phải xét xử phúc thẩm một lần. Để khắc phục tình trạng này, theo chúng tôi nên có quy định cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân có quyền rút quyết định “rút kháng nghị” của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp dưới nếu như xét thấy việc rút kháng nghị đó là không có căn cứ để việc xét xử phúc thẩm được tiến hành theo luật định

2. Khái niệm Kháng nghị ?Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm?

Khái niệm Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền để thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án và quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác có sự công bằng Và đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án được chính xác nhất

– Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án và các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện.

3. Chủ thể kháng nghị là gì ?

>> Tải ngay: Mẫu đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

– Đối với phúc thẩm thì Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Viện kiểm sát cùng cấp sẽ có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

– Đối với Giám đốc thẩm thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án Quân sự cấp trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp trung ương, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp cao sẽ có thẩm quyền kháng nghị.

– Còn đối với Tái thẩm thì thẩm quyền kháng nghị thuộc về Viện trưởng của viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát Quân sự cấp trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao theo quy định.

4. Về việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị

Điều 342. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị

1. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; người kháng cáo rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo; Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị.

2. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải lập văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.

3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng cáo, kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.

Trong trường hợp vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị quy định tại Điều 234 của BLTTHS, thì người kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị đối với phần hoặc toàn bộ bản án mà mình có quyền kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo.
Trong trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị nhưng sau đó có kháng cáo, kháng nghị lại mà vẫn còn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị, thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung.
Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 234 của BLTTHS, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị, nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo.

5. Về việc rút kháng cáo, kháng nghị

>> Tải ngay: Mẫu đơn khởi kiện vụ án hành chính

Trong trường hợp người kháng cáo và Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà (trong vụ án không còn có kháng cáo và kháng nghị), thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ. Trước khi mở phiên toà việc ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm do Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà thực hiện, còn tại phiên toà do Hội đồng xét xử thực hiện. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp người kháng cáo rút một phần trong kháng cáo của mình hoặc có nhiều người kháng cáo, nhưng có người rút kháng cáo, có người không rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị trong kháng nghị của mình thì:
Một là, rút trước khi mở phiên toà, thì việc rút kháng cáo, kháng nghị đó phải được làm thành văn bản. Trường hợp người kháng cáo trực tiếp đến Toà án rút kháng cáo, thì Toà án cấp phúc thẩm yêu cầu người kháng cáo phải làm thành văn bản hoặc phải lập biên bản về việc rút kháng cáo theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS. Văn bản rút kháng cáo, kháng nghị và biên bản về việc rút kháng cáo phải được lưu vào hồ sơ vụ án. Phần kháng cáo, kháng nghị đã bị rút được coi như không có kháng cáo, kháng nghị. Toà án cấp phúc thẩm thông báo bằng văn bản về việc rút kháng cáo, kháng nghị đó theo quy định tại khoản 1 Điều 236 của BLTTHS và hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 mục 6 Phần I của Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP Hướng dẫn , thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của BLTTHS, đồng thời tiến hành các công việc do BLTTHS quy định để mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án đối với phần kháng cáo, kháng nghị còn lại theo thủ tục chung.
Hai là, rút tại phiên toà, thì việc rút kháng cáo, kháng nghị đó phải được ghi vào biên bản phiên toà. Toà án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án theo thủ tục chung đối với phần kháng cáo, kháng nghị còn lại.
Ba là, khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét đối với các phần có kháng cáo, kháng nghị đã bị rút mà không có liên quan đến phần kháng cáo, kháng nghị còn lại theo quy định tại Điều 241 và khoản 2 Điều 249 của BLTTHS. Nếu Toà án cấp phúc thẩm không xem xét các phần có kháng cáo, kháng nghị đã bị rút, thì những phần của bản án hoặc quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.