1. Ý tưởng về vòng đàm phán Uruguay
Ý tưởng về Vòng đàm phán Uruguay được nhen nhóm vào tháng 11-1982 tại một hội nghị cấp Bộ trưởng của các nước thành viên GATT tại Geneva. Bấy giờ, các vị Bộ trưởng đã dự định tiến hành một vòng đàm phán lớn nhưng hội nghị lúc đó đã không vượt qua được rào cản quá lớn là vấn đề nông nghiệp và bị coi như thất bại. Song trên thực tế, một chương trình làm việc mới đã được lên kế hoạch và đây chính là tiền đề cho chương trình vòng đàm phán Uruguay.
Tuy nhiên, phải mất bốn năm vất vả cùng nhiều nỗ lực tìm kiếm và làm sáng tỏ những vấn đề cần bàn cũng như quyết tâm tiến tới thỏa thuận thì các vị bộ trưởng mới đi đến quyết định tiến hành vòng đàm phán mới. Quyết định này được đưa ra vào tháng 9-1986 tại Punta del Este (Uruguay).
Các vị bộ trưởng cuối cùng cũng thống nhất một chương trình đàm phán đề cập đến hầu như toàn bộ các vấn đề về chính sách thương mại còn bỏ ngỏ cho tới thời điểm bấy giờ. Các cuộc đàm phán có nhiệm vụ thúc đẩy việc mở rộng thương mại đến nhiều lĩnh vực mới, đặc biệt là thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đồng thời cải tổ các chính sách thương mại đối với những sản phẩm nhạy cảm như nông sản và hàng dệt may.
Tất cả các điều khoản của GATT cũng sẽ được đưa ra xem xét lại. Đây sẽ là vòng đàm phán lớn nhất từ trước tới nay và các vị bộ trưởng đã nhất trí dành tới 4 năm để thực hiện nó một cách tốt đẹp.
Hai năm sau, vào tháng 12-1988, các vị bộ trưởng lại một lần nữa nhóm họp tại Montréal (Canada) để đánh giá những tiến bộ đã đạt được sau nửa chặng đường thực hiện vòng đàm phán. Nhiệm vụ lúc bấy giờ là xây dựng kế hoạch hành động cho hai năm còn lại của lịch trình đàm phán. Tuy nhiên các cuộc thương thảo đã đi vào ngõ cụt và mãi tới tháng 4 năm sau, các quan chức cấp cao mới lại gặp mặt nhau tại Giơnevơ để tranh luận một cách bình tĩnh hơn.
Tại hội nghị Montréal, bất chấp một số tồn tại, các vị bộ trưởng đã cùng công nhận một loạt các thành tựu đầu tiên, đặc biệt là sự nhượng bộ về thị trường cho sản phẩm của các quốc gia phương Nam để giúp đỡ các nước đang phát triển cũng như hợp lý hóa hệ thống giải quyết tranh chấp và thiết lập cơ chế kiểm tra đầu tiên mang tính chất toàn diện, hệ thống và định kỳ các chính sách và hoạt động thương mại của các nước thành viên GATT.
Các cuộc đàm phán lẽ ra sẽ kết thúc vào thời điểm diễn ra hội nghị bộ trưởng tháng 12-1990 tại Bruxelles. Nhưng các vị bộ trưởng đã không thành công trong việc đàm phán về cải cách thương mại đối với nông phẩm và quyết định kéo dài thời gian tranh luận. Vòng đàm phán Uruguay lúc này bước vào giai đoạn tồi tệ nhất.
Cho dù triển vọng về mặt chính trị tỏ ra không mấy sáng sủa, các công tác chuẩn bị vẫn được tiếp tục khẩn trương để cho ra đời bản dự thảo công cụ có hiệu lực pháp lý cuối cùng. Arthur Dunkel, bấy giờ là tổng giám đốc GATT, nhân vật chủ trì các cuộc đàm phán cấp cao là người đã soạn thảo dự thảo “Văn kiện cuối cùng”. Văn bản này được trình bày trước các bên tham gia đàm phán tại Geneva tháng 12-1991. Văn bản này giống hoàn toàn với văn bản được soạn thảo tại Punta del Este, chỉ thiếu danh sách cam kết của các quốc gia về vấn đề giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường dịch vụ. Bản dự thảo này là cơ sở xây dựng hiệp định chính thức.
Trong 2 năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã diễn ra hết sức khó khăn, thành công và thất bại đều hết sức mong manh. Tiến trình đàm phán thường chậm hơn so với tiến độ. Cùng với nông nghiệp, những vấn đề khác như thương mại dịch vụ, thâm nhập thị trường, luật chống bán phá giá hay thậm chí việc thiếp lập một thể chế kinh tế mới cũng trở thành những chủ đề gây xung đột. Sự bất đồng giữa Mỹ và liên minh châu Âu là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự thành công rất được trông đợi của các cuộc thảo luận.
Tháng 11-1992, Mỹ và Uỷ ban châu Âu đã vượt qua phần lớn những bất đồng về nông nghiệp giữa hai bên để cùng đi đến một hiệp định chung mang tên “Hiệp định Blair House”. Tháng 7-1993, các nước trong nhóm bộ tứ (Mỹ, Uỷ ban châu Âu, Nhật, Canada) thông báo đã có những tiến bộ đáng kể trong đàm phán về thuế quan và những vấn đề liên quan (mở cửa thị trường). Phải đợi đến ngày 15-1-1993 thì tất cả các vấn đề mới được giải quyết và các cuộc bàn thảo về việc mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ mới kết thúc, dù rằng đối với những vấn đề này, nhân tố mang tính chất quyết định một tuần sau đó mới ngã ngũ. Ngày 15-4-1994, các vị bộ trưởng của gần 123 quốc gia tham gia đàm phán đã ký kết các hiệp định này trong một cuộc họp diễn ra tại Marraketch (Maroc).
Sự chậm trễ liên tiếp trong các cuộc đàm phán cũng có mặt tích cực của nó. Đối với một số vấn đề về dịch vụ, sở hữu trí tuệ hay thậm chí việc hình thành tổ chức thương mại thế giới sẽ không thể tiến xa đến thế nếu đàm phán được tiến hành vào năm 1990.
Tuy nhiên, việc phải làm còn quá nhiều và những nhân vật chịu trách nhiệm về các vấn đề thương mại của các quốc gia bắt đầu mỏi gối chồn chân. Việc đi đến một hiệp định chung cho hầu hết các vấn đề thương mại tỏ ra hết sức khó khăn khiến một số người cho rằng tổ chức một vòng đàm phán ở quy mô lớn đến thế là điều không tưởng. Trong khi ấy, rất nhiều vấn đề đã được lên lịch trình bàn bạc trong các hiệp định ký kết trong khuôn khổ vòng đàm phán Uruguay.
Năm 1996, một số quốc gia đã dứt khoát yêu cầu xúc tiến một vòng đàm phán mới vào đầu thế kỷ 21. Phản ứng trước yêu cầu này không thống nhất song rõ ràng hiệp định Marraketch đã tập hợp những cam kết mở lại đàm phán về các vấn đề nông nghiệp và dịch vụ vào cuối thế kỷ 20. Các cuộc đàm phán được bắt đầu vào năm 2000 và đặt trong khuôn khổ vòng đàm phán Doha vì sự phát triển.
2. Các nước tham gia vòng đàm phán Uruguay
Vòng đàm phán Uruguay là một loạt các cuộc đàm phán thương mại nối tiếp nhau từ tháng 9 năm 1968 cho đến tháng 4 năm 1994. Đây là vòng đàm phán thứ tám của Hiệp định chưng về Thuế quan và Thương mại (GATT) với sự tham gia của 125 nước. Đây là vòng đàm phán cuối cùng và cũng là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả các vòng đàm phán của GATT. Vòng đàm phán này đã dẫn đến việc thành lập WTO và thông qua một loạt các hiệp định mới.
3. Điều gì đã xảy ra với GATT
Tổ chức thương mại thế giới đã thay thế GATT với tư cách một tổ chức quốc tế song những gì đạt được sau vòng đàm phán Uruguay cho thấy thực tế. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại vẫn tồn tại và có hiệu lực vì nó là hiệp định khung của tổ chức thương mại thế giới trong các vấn đề về trao đổi hàng hóa.
Các luật gia thương mại để ý đến sự khác nhau giữa GATT năm 1994 với những phần của GATT được giữ đến ngày hôm nay và GATT của năm 1947 (GATT 1947 vẫn luôn là nền tảng của GATT 1994).
4. Kết thúc vòng đàm phán Uruguay
Kết quả của Vòng Uruguay là một bộ các hiệp định với những hậu quả bất đối xứng cao cho các nước phát triển và đang phát triển. Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy sự khác biệt lớn trong những sự nhân nhượng khối lượng thương mại - thuế quan giữa bên cho và bên nhận: một số lãnh thổ, như là Hoa Kỳ, nhận được những nhân nhượng nhiều hơn là cho đi; các lãnh thổ khác, như là Ấn Độ, Hàn Quốc và Thái Lan (một số nước đưa ra nhân nhượng ít hơn so với trước), cho nhiều nhân nhượng hơn là nhận được (Finger, Reincke, và Castro 1999). Hơn nữa, nhiều mô hình cân bằng nói chung có thể tính toán được cho thấy rằng các kết quả Vòng Uruguay có lợi không tương xứng với GDP của các nước phát triển, và một số nước đang phát triển (đặc biệt ở vùng cận-Sahara châu Phi) thường chịu tổn thất GDP ròng do Vòng Uruguay - chí ít là từ năm 1995 đến năm 2005 (Goldin, Knudsen, và van der Mensbrugghe 1993; Viện Phát triển Hải ngoại 1995; Harrison, Rutherford, và Tarr 1996). Nhìn rộng hơn, khó có thể tranh cãi rằng các chính phủ các nước đang phát triển được hưởng sự thúc đẩy chính trị nội bộ giống nhau từ các thỏa thuận có trong vòng đàm phán này. Các nước này nhận thêm các nghĩa vụ mới trong các hiệp định TRIPS và TRIMS, GATS và hiệp định về Sự hiểu biết về Cán cân thanh toán - mà hầu hết đã bị phản đối từ lâu; họ không nhận được kết quả gì có ý nghĩa từ các hiệp định sửa đổi về trợ cấp và chống bán phá giá; và họ được yêu cầu phải có nghĩa vụ đối với hai hiệp định đó - một điều trái ngược với các quy tắc của Vòng Tokyo, có các thành viên tự nguyện. Và trong khi hiệp định dệt may quy định việc xóa bỏ hạn ngạch về dệt may, thì khả năng chở hàng về là rất nặng nề, và mức thuế quan tột đỉnh của Hoa Kỳ khoảng 15% đánh vào các sản phẩm đó không bị loại bỏ. Hầu hết các nước đang phát triển nhận được rất ít và cho đi rất nhiều trong Vòng Uruguay - dù vậy họ đã ký kết (Ramakrishna 1998; Srinivasan 1998a, ”99-101; Srinivasan 1998b; Oloka-Onyango và Udagama 2000). Như đã được đo lường bằng các mục tiêu của họ tham gia vào hai vòng đàm phán cuối cùng, bằng các khiếu nại về những thiếu sót của kết quả đạt được, và bằng sự phân tích trước kết quả qua đàm phán không thể làm hài lòng các nhà đàm phán các nước đang phát triển bằng các đồng cấp EC và Hoa Kỳ của họ. Các nước đang phát triển chấp nhận kết quả này bởi vì bác bỏ các hiệp định WTO sẽ còn làm cho họ tồi tệ hơn, xóa bỏ sự bảo đảm pháp lý để tiếp cận các thị trường EC và Hoa Kỳ.