1. cở sở pháp lý:
- Hiệp định GATS 1994
- DS139 DS/WTO
2. Nội dung tư vấn
1. Hiệp định GATS là gì?
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) là tập hợp đầu tiên và duy nhất những quy định đa biên điều chỉnh thương mại dịch vụ thế giới. Được đàm phán trong vòng Uruguay, hiệp định được soạn thảo trong bối cảnh ngành dịch vụ đạt mức tăng trưởng nhanh chóng trong vòng 30 năm qua và đang có thêm nhiều tiềm năng phát triển nhờ cuộc cách mạng thông tin.
Dịch vụ là lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế thế giới; chúng chiếm 60% sản xuất trên toàn thế giới, tạo ra 30% việc làm và chiếm gần 20% thương mại.
Khi ý tưởng đưa các quy định về dịch vụ vào hệ thống thương mại đa biên được nêu ra vào đầu và giữa những năm 80, một số nước đã tỏ ra nghi ngại, thậm chí còn phản đối. Họ cho rằng một hiệp định như vậy có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng các chính phủ theo đuổi những mục tiêu chính sách quốc gia và hạn chế khả năng điều tiết của chính phủ. Tuy vậy, hiệp định đã được soạn thảo một cách hết sức mềm dẻo, cả về mặt quy định chung lẫn những cam kết cụ thể về tiếp cận thị trường.
Giải thích hiệp định GATS
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ bao gồm ba phần: văn bản chính của hiệp định nêu ra những nghĩa vụ và quy định chung, phần phụ lục bao gồm các quy định được áp dụng cho các lĩnh vực khác nhau và các cam kết cụ thể của các nước nhằm đảm bảo mở cửa thị trường nội địa, kể cả những chỉ dẫn đối với trường hợp các nước tạm thời từ bỏ nguyên tắc không phân biệt đối xử, nền tảng của điều khoản tối huệ quốc.
Các nghĩa vụ và quy định chung
Hiệp định điều chỉnh thương mại tất cả các loại dịch vụ. GATS được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ được trao đổi trên thế giới, chẳng hạn như các dịch vụ ngân hàng, viễn thông, du lịch, các dịch vụ chuyên nghiệp... Hiệp định cũng định nghĩa 4 phương thức trao đổi dịch vụ:
- Một nước cung ứng dịch vụ cho một nước khác (chẳng hạn các cuộc gọi quốc tế), được gọi tên chính thức là “cung ứng dịch vụ qua biên giới” (hay “phương thức 1” theo ngôn từ của WTO)
- Người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ như du lịch), được gọi tên chính thức là “tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài” (“phương thức 2”)
- Doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh hoặc công ty con tại một nước nhằm cung ứng dịch vụ tại nước đó (chẳng hạn các giao dịch của ngân hàng nước ngoài tại một nước), được gọi tên chính thức là “hiện diện thương mại” (“phương thức 3”)
- Các cá nhân rời khỏi một nước để sang cung ứng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ như hoạt động của người mẫu thời trang hoặc nhà tư vấn), được gọi tên chính thức là “hiện diện của tự nhiên nhân” (“phương thức 4”)
2. Nguyên tắc MFN là gì?
Đối xử tối huệ quốc (MFN): Ưu đãi nào đã được dành cho một nước thì phải được dành cho tất cả các nước khác. Nguyên tắc MFN có nghĩa là tất cả các đối tác thương mại được đối xử công bằng, theo đúng nguyên tắc không phân biệt đối xử.
Trong khuôn khổ của GATS, nếu một nước mở cửa một lĩnh vực cho cạnh tranh nước ngoài thì nước đó sẽ phải dành cơ hội đồng đều cho các nhà cung ứng dịch vụ của tất cả các nước thành viên WTO. (Nguyên tắc này được áp dụng ngay cả khi một nước không đưa ra cam kết cụ thể nào về mở cửa thị trường của mình cho các công ty nước ngoài trong khuôn khổ WTO).
Điều khoản tối huệ quốc được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ, nhưng các nước được phép tạm thời miễn áp dụng điều khoản này đối với một số ngành đặc biệt. Khi GATS có hiệu lực, một số nước đã ký trước đó với các đối tác thương mại những hiệp định ưu đãi về dịch vụ, trong khuôn khổ song phương hoặc giữa một nhóm nước nhất định.
Các thành viên của WTO cho rằng cần duy trì các ưu đãi này trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, các nước tự dành quyền tiếp tục đối xử ưu đãi hơn đối với một số nước nào đó trong một lĩnh vực dịch vụ nhất định bằng cách liệt kê các “ngoại lệ đối với nghĩa vụ MFN” đồng thời với các cam kết ban đầu của mình. Để bảo vệ nguyên tắc tối huệ quốc, các nước đã quyết định ngoại lệ chỉ được chấp nhận một lần duy nhất và không được bổ sung thêm. Hiện nay các ngoại lệ đang được xem xét lại như đã quy định và về nguyên tắc thời hạn của chúng là 10 năm.
3. Nội dung vụ kiện ds139 DS/WTO:
Tham vấn Khiếu nại của Nhật Bản. Ngày 3 tháng 7 năm 1998, Nhật Bản yêu cầu tham vấn với Canada về các biện pháp mà Canada đang thực hiện trong ngành công nghiệp ô tô. Nhật Bản cho rằng theo luật của Canada khi thực hiện thỏa thuận sản phẩm ô tô (Auto Pact) giữa Mỹ và Canada, chỉ một số hạn chế các nhà sản xuất xe có động cơ đủ điều kiện nhập khẩu xe miễn thuế vào Canada và phân phối xe có động cơ tại Canada với giá bán buôn và các cấp độ phân phối bán lẻ. Nhật Bản còn cho rằng việc đối xử miễn thuế này phụ thuộc vào hai yêu cầu: yêu cầu về nội dung giá trị gia tăng (CVA) của Canada áp dụng cho cả hàng hóa và dịch vụ; và một yêu cầu sản xuất và bán hàng. Nhật Bản cáo buộc rằng những biện pháp này không phù hợp với các Điều I: 1, III: 4 và XXIV của GATT 1994, Điều 2 của Hiệp định TRIMs, Điều 3 của Hiệp định SCM và các Điều II, VI và XVII của GATS. Vào ngày 17 tháng 8 năm 1998, EC đã yêu cầu tham vấn với Canada về các biện pháp tương tự mà Nhật Bản nêu ra trong WT / DS139 và viện dẫn các điều khoản tương tự bị cáo buộc là vi phạm, ngoại trừ Điều XXIV của GATT 1994, được Nhật Bản viện dẫn nhưng không được trích dẫn bởi EC. Ngày 12 tháng 11 năm 1998, Nhật Bản yêu cầu thành lập một ban hội thẩm về WT / DS139. Tại cuộc họp ngày 25 tháng 11 năm 1998, DSB hoãn việc thành lập ban hội thẩm. Thủ tục của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm Ngoài yêu cầu thành lập ban hội thẩm của Nhật Bản và EC, tại cuộc họp ngày 1/2/1999, DSB đã thành lập một hội đồng duy nhất, theo Điều 9.1 của DSU, để xem xét các khiếu nại WT / DS139 và WT / DS142. Ấn Độ, Hàn Quốc và Hoa Kỳ bảo lưu quyền của bên thứ ba. Ngày 15 tháng 3 năm 1999, EC và Nhật Bản yêu cầu Tổng Giám đốc xác định thành phần của Ban Hội thẩm. Ngày 25 tháng 3 năm 1999, Ban Hội thẩm được thành lập. Báo cáo của ban hội thẩm đã được gửi tới các Thành viên vào ngày 11 tháng 2 năm 2000. Ban hội thẩm nhận thấy rằng: các điều kiện mà Canada cho phép miễn thuế nhập khẩu không phù hợp với Điều I của GATT 1994 và không phù hợp với Điều XXIV của GATT 1994. việc áp dụng các yêu cầu của CVA không phù hợp với Điều III: 4 của GATT 1994. việc miễn thuế nhập khẩu cấu thành một khoản trợ cấp xuất khẩu bị cấm vi phạm Điều 3.1 (a) của Hiệp định SCM. cách thức mà Canada điều kiện để được miễn thuế nhập khẩu là không phù hợp với Điều II của GATS và không thể biện minh theo Điều V của GATS. việc áp dụng các yêu cầu CVA vi phạm Điều XVII của GATS. Vào ngày 2 tháng 3 năm 2000, Canada thông báo ý định kháng cáo một số vấn đề về luật và cách giải thích pháp lý do ban hội thẩm phát triển. Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm đã được gửi tới các Thành viên vào ngày 31 tháng 5 năm 2000. Cơ quan Phúc thẩm: đã đảo ngược kết luận của ban hội thẩm rằng Điều 3.1 (b) của Thỏa thuận trợ cấp không mở rộng đến trường hợp bất thường “trên thực tế”. cho rằng ban hội thẩm đã không kiểm tra được liệu biện pháp đang được đề cập có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ theo yêu cầu của Điều I: 1 của GATS hay không. đã đảo ngược kết luận của ban hội thẩm rằng việc miễn thuế nhập khẩu không phù hợp với các yêu cầu của Điều II: 1 của GATS cũng như kết luận của ban hội thẩm dẫn đến kết luận đó. DSB đã thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo của Ban Hội thẩm, được sửa đổi bởi báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, vào ngày 19 tháng 6 năm 2000. Thực hiện các báo cáo đã thông qua Căn cứ vào Điều 21.3 của DSU, Canada đã thông báo cho DSB vào ngày 19 tháng 7 năm 2000 rằng họ sẽ tuân thủ các khuyến nghị của DSB. Một trong những khuyến nghị của DSB là Canada rút lại trong vòng 90 ngày khoản trợ cấp xuất khẩu bị phát hiện là không phù hợp với Điều 3.1 (a) của Hiệp định Trợ cấp. Vào ngày 4 tháng 8 năm 2000, Nhật Bản và Cộng đồng Châu Âu đã yêu cầu, theo Điều 21.3 (c) của DSU, rằng khoảng thời gian hợp lý được xác định bằng trọng tài. Trọng tài xác định rằng “khoảng thời gian hợp lý” là 8 tháng kể từ ngày thông qua Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và Ban Hội thẩm, như Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm đã được sửa đổi. Do đó, “khoảng thời gian hợp lý” sẽ hết hạn vào ngày 19 tháng 2 năm 2001. Tại cuộc họp của DSB ngày 12 tháng 3 năm 2001, Canada tuyên bố rằng, kể từ ngày 18 tháng 2 năm 2001, Canada đã tuân thủ các khuyến nghị của DSB.
4. Xác định vi phạm Điều 2 GATS- vi phạm nguyên tắc MFN:
Bước 1: Xác định hành vi miễn thuế nhập khẩu theo MVTO 1998 và SROs của Canada dành cho một vài nhà sản xuất/nhà bán buôn xe hơi có ảnh hưởng đến dịch vụ bán buôn hay không?
Hành vi miễn thuế nhập khẩu gây ảnh hưởng gián tiếp đến ngành dịch vụ phân phối (dịch vụ phân phối thuộc phạm vi điều chỉnh của GATs). Vì:
+ Biện pháp này thuộc vào loại biện pháp thứ ba được xác định bởi cơ quan phúc thẩm trong vụ kiện EC-Banana III ( năm 1997), cụ thể “ một dịch vụ liên quan đến hàng hóa nhất định hoặc một dịch vụ được cung cấp liên quan đén hàng hóa nhất định” “có thể được xem xét cả trong phạm vi GATT 1994 và GATs”. Như vậy hành vi này trước hết thuộc phạm vi xem xét của hiệp định GATs
+ Biện pháp này là biện pháp vi phạm ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ được xác nhận bởi phụ lục 1 của Scheduling Guidelines mặc dù theo phụ lục 1 này thành viên không cần phải liệt kê các loại thuế quan ( theo phụ lục 1 các thành viên không phải liệt kê các loại thuế quan cùng với các điều khoản về dịch vụ mà ảnh hưởng đến thuế quan hay sự di chuyển của hành hóa liên quan đến việc cung cấp dịch vụ vì nó đã được nêu trong GATT) tuy nhiên ban hội thẩm lập luận rằng biện pháp bị kiện trong vụ tranh chấp không liên quan thuế quan và sự di chuyển hàng hóa liên quan đến việc cung cấp dịch vụ mà biện pháp này ảnh hưởng đến việc sử dụng quyền miễn thuế cho hàng hóa của nhà cung cấp dịch vụ. Do đó, bên bị đơn Canada không cần phải liệt kê mức độ thuế quan chênh lệch áp cho xe hơi nhập khẩu mà chỉ cần liệt kê những giới hạn hoặc sự miễn thuế liên quan đến biện pháp mà bị đơn sử dụng để ngăn các nhà cung cấp khác hưởng quyền được miễn trừ thuế đối với xe hơi nhập khẩu. Như vậy biện pháp của bị đơn là có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ phân phối.
+Biện pháp này và biện pháp trong vụ kiện EC- Banana III ( được xác định là có gây ảnh hưởng đến ngành dịch vụ phân phối) là giống nhau, chúng đều cho phép một vài nhà cung cấp được nhập khẩu và bán lại hàng hóa theo điều kiện thuận lợi hơn trong khi đặt các nhà cung cấp khác vào vị trí cạnh tranh kém thuận lợi do phải đóng các khoản thuế hoặc phải mua giấy phép do hạn ngạch thuế quan . Đồng thời trong cả vụ kiện hiện tại và vụ kiện EC- Banana III, hai hành vi này đều tạo nên sự bất lợi về kinh tế cho các nhà cung cấp khác.
Do đó, hành vi miễn thuế nhập khẩu của Canada đối với một vài nhà cung cấp nhất định đã gây ảnh hưởng đến ngành dịch vụ phân phối, thuộc phạm vi điều chỉnh của GATs.
Bước 2: Xác định nhà cung cấp dịch vụ được hưởng quyền miễn trừ thuế và những nhà cung cấp không được hưởng quyền này là tương tự. Vì những nhà cung cấp này cung cấp cùng một loại dịch vụ (phân phối xe hơi) nên những nhà dịch vụ này được xem là “tương tự”
Bước 3: Xác định biện pháp này tạo ra sự đối xử kém thuận lợi hơn giữa các nhà cung cấp
(i) Kết cấu cạnh tranh trên thị trường thương mại dịch vụ bán buôn
Ban hội thẩm trích dẫn phán quyết trong vụ EC để củng cố lập luận của nguyên đơn “ngay cả khi một công ty hội nhập theo chiều dọc thì nó vẫn có thể tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ bán buôn.” Như vậy, công ty ấy chính là nhà cung ứng dịch vụ trong phạm vi điều chỉnh của GATS.
Việc hội nhập theo chiều dọc không loại trừ khả năng công nhận người thực hiện hoạt động phân phối là một nhà cung ứng dịch vụ. Ban hội thẩm cũng cho rằng hoạt động hội nhập theo chiều dọc có thể không tồn tại cạnh tranh thực tế giữa các nhà bán buôn trong việc mua bán các phương tiện từ nhà sản xuất. Tuy nhiên, hoạt động ấy không điều chỉnh sự cạnh tranh tiềm năng trong mối quan hệ của người bán buôn – nhà sản xuất hay sự cạnh tranh thực tế giữa mối quan hệ các nhà bán buôn – nhà bán lẻ. Đồng thời, dựa vào kết cấu thị trường hiện tại, không có một biện pháp nào của chính phủ ngăn cấm nhà phân phối bán buôn tiếp cận các nhà sản xuất khác nhau trong việc mua bán phương tiện ô tô. Liên quan đến sự cạnh tranh trong việc bán hàng cho các nhà bán lẻ, dựa vào thỏa thuận phân phối độc quyền giữa nhà sản xuất và nhà bán buôn, những người bán lẻ phải làm việc với cùng một người bán buôn đối với từng nhãn hiệu cụ thể. Ngoài ra, người bán lẻ cũng không được loại trừ sự cạnh tranh giữa các nhà bán buôn trong việc cung cấp các phương tiện ô tô có tính cạnh tranh trực tiếp.
Ban hội thẩm kết luận hội nhập theo chiều dọc và những thỏa thuận phân phối độc quyền giữa các nhà sản xuất và người bán buôn trong ngành công nghiệp ô tô không cho phép tạo sự đối xử kém thuận lợi cho những nhà cung ứng dịch vụ bán buôn. Ngoài ra, hai hành động trên cũng không ngăn chặn sự cạnh tranh tiềm năng giữa những nhà bán buôn (đối với việc mua ô tô từ nhà sản xuất) và sự cạnh tranh thực tế liên nhãn hiệu trong hoạt động bán lại cho các nhà bán lẻ.
(ii) Yêu cầu hiện diện sản xuất và danh sách hạn chế các nhà sản xuất thụ hưởng theo Hiệp ước về Ô tô
Nguyên đơn đưa ra cáo buộc rằng mặc dụ tiêu chí để hưởng sự miễn thuế nhập khẩu không hoàn toàn dựa trên yếu tố quốc tịch nhưng sự miễn thuế nhập khẩu này đã tạo ra sự phân biệt đối xử trên thực tế - “de facto” theo Điều II GATS vì hầu hết hoặc toàn bộ những nhà cung ứng dịch vụ của Thành viên được hưởng lợi từ việc miễn thuế này đều có quốc tịch Mĩ. Canada phủ định cáo buộc trên và đưa ra dẫn chứng ít nhất hai nhà sản xuất hưởng lợi từ quy định miễn thuế có quốc tịch tại châu Âu (Volvo Canada Ltd và DaimlerChrysler Canada Inc) và một công ty liên doanh 50/50 được thành lập bao gồm pháp nhân của Nhật và Mĩ (CAMI Automotive Inc.). Tuy nhiên, khẳng định trên nhận chỉ nhận được sự phản đối từ Châu Âu và Nhật Bản.
Ban hội thẩm theo đó đưa ra các dẫn chứng bảo vệ lập luận của nguyên đơn:
+) DaimlerChrysler Canada Inc. là nhà cung ứng dịch vụ của Mĩ theo Điều XXVIII(m)(ii)(2) GATS bởi vì công ty này được điều hành bởi doanh nghiệp DaimlerChrysler – một pháp nhận của Mĩ chiếu theo Điều XXVIII(m)(i) Hiệp định trên
+) Đối với công ty CAMI Automotive, hiển nhiên rằng đây là một công ty liên doanh giữa tập đoàn Suzuki Motor của Nhật Bản và tập đoàn General Motors của Mĩ. Ủy ban châu Âu cho rằng mặc dù CAMI được thành lập theo hình thức liên doanh, công ty đó vẫn được xem là một pháp nhân của Mĩ vì nó được điều hành bởi tập đoàn General Motors (một thực thể pháp lí thành lập tại Mĩ). Hơn nữa, Ủy ban châu Âu cũng cung cấp thêm thông tinh tập đoàn General Motor chính là cổ đông lớn nhất của tập đoàn Suzuki Motor và những cá nhân mang quốc tịch Nhật Bản chỉ cấu thành một bộ phận nhỏ trong ban giám đốc của CAMI. Tuy nhiên, theo Điều XXVIII(n)(ii) GATS, không có cơ sở nào cho phép Ban hội thẩm xác định pháp nhân nào nắm quyền điều hảnh, kiểm soát CAMI.
+) Volvo Canada ltd cũng chính là một pháp nhân của Mĩ theo Điều XXVIII(m) GATS vì quyền sở hữu và điều hành công ty đã chuyển giao từ Volvo AB (Thụy ĐIển) sang tập đoàn Ford Motor của Mĩ từ tháng 1 năm 1999.
Mặc dù không có tiêu chí cụ thể cho việc áp dụng miễn thuế nhập khẩu dựa trên quốc tịch nhưng yêu cầu hiện diện sản xuất ở giai đoạn từ 1/8/1963 đến 31/7/1964 trong MVTO 1998 đã cho phép ba nhà cung ứng dịch vụ của Mĩ (Chrysler Canada Ltd., General Motors of Canada Ltd. and Ford Motor Company of Canada Ltd.) và một nhà cung ứng dịch vụ của Thụy Điển (Volvo Canada Ltd.) có đặc quyền này. SROs được sử dụng để mở rộng sự phân loại nhà sản xuất được thụ hưởng bằng cách cho phép hai nhà sản xuất/nhà bán buôn ô tô (Intermeccanica of Canada and CAMI) và một doanh nghiệp liên doanh giữa tập đoàn Suzuki của Nhật và General Motors của Mĩ cũng như một vài nhà sản xuất/người bán buôn xe buýt, phương tiện đặc biệt được hưởng quyền miễn thuế nhập khẩu này.
Kết luận của Ban hội thẩm: hành vi miễn thuế nhập khẩu trong MVTO 1998 và SROs đã tạo ra sự đối xử kém thuận lợi cho các dịch vụ và nhà cung ứng dịch vụ của các Thành viên khác theo Điều II:1 GATS bởi vì quyền lợi này chỉ được ghi nhận cho một số nhà sản xuất/bán buôn ô tô của một vài Thành viên, dựa trên tiêu chí hiện diện sản xuất tại 1 khoảng thời gian xác định. Ban hội thẩm khẳng định yêu cầu hiện diện sản xuất theo MVTO 1998 và SROs đã không cho phép nhà cung ứng dịch vụ bán buôn ô tô (không sản xuất ô tô tại Canada) hưởng quyền miễn thuế nhập khẩu. Hơn nữa, năm 1989 Chính phủ Canada đã ngừng việc ban hành SROs để tạo ra một danh sách quy định hạn chế các nhà thụ hưởng việc miễn thuế nhập khẩu này. Hậu quả là chỉ các nhà sản xuất/bán buôn ô tô từ một số Thành viên có thể nhập khẩu vào Canada mà được miễn thuế trong khi các nhà sản xuất/người bán buôn của những Thành viên còn lại không có được quyền lợi trên.Canada đã có sự phân biệt đối xử trong việc miễn thuế nhập khẩu ô tô đối với các dịch vụ, nhà cung ứng dịch vụ tương tự giữa các quốc gia Thành viên với nhau. Do đó, hành vi miễn thuế nhập khẩu được quy định tại MVTO 1998 và SROs trái với yêu cầu tại Điều II:2 GATS
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê