Tình huống:

Kính thưa Luật sư, tôi có một số câu hỏi liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng há bằng đường biển, kính mong Luật sư giúp tôi giải đáp.

1. Trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đối với Việt Nam, khi có tranh chấp phát sinh thì Tòa án Việt Nam có thể có thẩm quyền xét xử các vụ kiện về tổn thất hàng hóa vận chuyển theo vận đơn do chủ tàu nước ngoài ký phát hay là không có thẩm quyền?

2. Đã có vụ án thực tế nào liên quan đến vấn đề tranh chấp giải quyết đối với các Tòa án giữa các nước trong trường hợp phát sinh từ vận đơn do chủ tàu nước ngoài ký phát hay không?

Cảm ơn!

Trả lời:

1. Khái quát hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo quy định pháp luật hàng hải

- Cơ sở pháp lý: điều 145 Bộ Luật hàng hải Việt Nam năm 2015

Theo quy định tại điều luật, "Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là thỏa thuận được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu giá dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng."

Theo đó, hàng hóa trong hợp đồng này là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng và các động sản khác, kể cả động vật sống, container hoặc công cụ tương tự do người giao hàng cung cấp để đóng hàng được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

Cũng theo Điều 146 của Bộ Luật hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định có loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển như sau:

"1. Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hóa để vận chuyển. Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển được giao kết theo hình thức do các bên thỏa thuận.

2. Hợp đồng vận chuyển theo chuyến là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể để vận chuyển hàng hóa theo chuyến. Hợp đồng vận chuyển theo chuyến phải được giao kết bằng văn bản."

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Nội thủy là gì ? Cách phân định vùng nội thủy

2. Khái quát về vận đơn

Vận đơn (Bill of Lading - viết tắt là B/L). Đây là chứng từ vận chuyển đường biển do người vận chuyển hoặc đại diện của họ ký phát cho người giao hàng sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu hoặc sau khi đã nhận hàng hóa để vận chuyển đến nơi trả hàng. Trong thực tiễn hàng hải, người ký vận đơn thường là thuyền trưởng hoặc là đại lý của tàu nếu họ được thuyền trưởng ủy quyền.

Vận đơn (Bill of Lading - viết tắt là B/L), nó là bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trên vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; là bằng chứng về quyền sở hữu hàng hóa, có thể dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

Vận đơn (Bill of Lading - viết tắt là B/L), nó được ký phát theo bộ gồm các bản gốc (original) và các bản sao (copy). Trọn bộ vận đơn gốc (full set) thường có ba bản gốc giống nhau. Khi thanh toán tiền hàng theo phương thức tín dụng chứng từ, người bán thường phải xuất trình trọn bộ vận đơn gốc mói được thanh toán tiền hàng.

Người nhận hàng muốn được nhận hàng, người nhận hàng phải xuất trình một bản vận đơn gốc cho người vận chuyển. Khi đã có một bản vận đơn gốc được xuất trình thì các bản gốc còn lại sẽ không còn giá tri để nhận hàng.

Theo Bộ Luật hàng hải Việt Nam năm 2015 hiện nay quy định vận đơn tại "Điều 148. Chứng từ vận chuyển" như sau:

"Vậy Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển."

Theo đó, pháp luật hàng hải cũng quy định về vận đơn suốt đường biển là vận đơn ghi rõ việc vận chuyển hàng hóa được ít nhất hai người vận chuyển bằng đường biển thực hiện.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Nộp đơn ly hôn tại nơi cư trú hay nơi đăng ký kết hôn?

3. Xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyến vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

- Với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, vụ việc có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;

Thứ hai, vụ việc có các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

Thứ ba, vụ việc có các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

- Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong giải quyến vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được quy định đối với hai trường hợp: Thẩm quyền chung của Tòa án và Thẩm quyền riêng. Theo đó thẩm quyền của Tòa án được thể hiện ở từng trường hợp như sau:

Thứ nhất theo Điều 469 của Bộ luật quy định về "thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài" như sau:

"1. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:

a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

b) Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;

c) Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;

d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;

e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.

2. Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài."

Thứ hai theo Điều 470 Bộ luật quy định về "thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam" trong những trường hợp sau:

"1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:

a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;

b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;

c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam.

2. Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:

a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;

c) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;

d) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;

đ) Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam."

Tuy nhiên pháp luật cũng quy định có trường hợp không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án nếu vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được một Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài.

Đối với thủ tục giải quyết việc dân sự liên quan đến việc bắt giữ tàu bay, tàu biển sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.

Trân trọng!

4. Giải quyết tình huống

Đới với câu hỏi của bạn: "Trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đối với Việt Nam, khi có tranh chấp phát sinh thì Tòa án Việt Nam có thể có thẩm quyền xết xử các vụ kiện về tổn thất hàng hóa vận chuyển theo vận đơn do chủ tàu nước ngoài ký phát hay là không có thẩm quyền hay không?" Chúng tôi sẽ trả lời anh/ chị như sau:

Những năm gần đây, ngày càng có nhiều vụ tranh chấp về tổn thất hàng hóa giữa các chủ tàu Việt Nam và các chủ hàng nước ngoài, cũng như giữa các chủ tàu nước ngoài và các chủ hàng Việt Nam. Đối với các vụ kiện giữa các chủ tàu Việt Nam và các chủ hàng nuớc ngoài thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam là điều không cần phải bàn cãi vì trong các vận đơn do các chủ tàu Việt Nam ký phát đều có quy định về việc này.

Tuy nhiên, đối với các vụ tranh chấp giữa các chủ tàu nước ngoài và các chủ hàng Việt Nam được khởi kiện tại Tòa án Việt Nam thì các chủ tàu nước ngoài thông thường cho rằng Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền xét xử vụ kiện do trong vận đơn có điều khoản tài phán (Jurisdiction Clause) quy định mọi tranh chấp phát sinh từ vận đơn sẽ được giải quyết bằng trọng tài hoặc tòa án nước ngoài.

Mục đích của điều khoản tài phán nói trên là để đơn phương giành quyền xét xử cho tòa án nước mà chủ tàu có trụ sở và gạt bỏ thẩm quyền của tòa án các nước khác mà theo luật của các nước này tòa án của họ cũng có thẩm quyền xét xử vụ kiện. Ọuy định đơn phương như vậy làm phương hại tới quyền của các chủ hàng trong quá trình tố tụng, theo đuổi vụ kiện đòi chủ tàu bồi thường tổn thất hàng hóa vận chuyển theo vận đơn.

Chính vì những lý do trên, khi thụ lý một vụ án dân sự hàng hải có yếu tố nước ngoài, ngoài việc xem xét thẩm quyền theo quy định của pháp luật, tòa án các nước thường xem xét các vấn đề sau:

  • Bên đương sự nào thực thi quyền lực thực tế để khỏi kiện (ví dụ: bên đương sự nào thỉnh cầu tòa án ra lệnh bắt giữ tàu)?
  • Tài sản đang tranh chấp ở nước nào?
  • Tổn thẩt, mất mát tài sản xảy ra ở đâu?
  • Các bằng chứng, nhân chứng và các tình tiết của vụ kiên liên quan tới quốc gia nào nhất..

5. Sưu tầm tình huống thực tế

Trong những năm qua, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và xét xử khá nhiều vụ án dân sư hàng hải có yếu tố nước ngoài phát sinh từ vận đơn do chủ tàu nước ngoài ký phát.

Điển hình đó là vụ tàu Asena 1, vụ đó được thể hiện như sau:

"Tháng 8 năm 1995, tàu Asena 1 treo cờ Panama, thuộc sở hữu của chủ tàu Koray Shipping Inc Thổ Nhĩ Kỳ, chỏ 21.000 tấn xi măng đóng bao từ một cảng Bắc Triều Tiên về cảng Đà Nẵng. Trong khi tàu về tới cảng Đà Nẵng thì một số lượng lớn bao xi măng đã bị ướt nước biển và nước mưa do các nắp hầm hàng đã không kín nước.

Lúc này Artexport đại diện cho các chủ hàng thuê giám định và đòi chủ tàu bồi thường tổn thất hàng hóa, tuy nhiên chủ tàu lại từ chối trách nhiệm đó. Vì vậy, Artexport đã khởi kiện Koray Shipping Inc tại Tòa án Nhân dân tỉnh Ọuảng Nam - Đà Nẵng - Đất nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đề nghị Tòa ra lệnh bắt giữ tàu Asena 1.

Koray Shipping Inc đã ngay lập tức phản đối rằng Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền xét xử vụ kiện do vận đơn quy định tranh chấp sẽ được xét xử bằng Trọng tài London theo luật Anh. Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng của Việt Nam nhận định rằng vận đơn không phải là hợp đồng, mà chỉ là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển bằng đường biển. Do vậy, điều khoản tài phán trong vận đơn là quy định đơn phương của chủ tàu, không có giá trị ràng buộc các chủ hàng.

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết giải quyết vụ kiện. Mặt khác, tổn thất của hàng hóa lại xảy ra ở cảng Việt Nam, mọi bằng chứng, nhân chứng liên quan tới vụ kiện đều đất nước Việt Nam, nên Tòa án hay Trọng tài Anh không thể điều tra các các tình tiết của vụ kiện thuận lợi như Tòa án Việt Nam được.

Vụ kiện xét xử Asena 1 lập luận được thực hiện tại Tòa án Việt Nam, cụ thể là tại Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nâng Việt Nam mới là thích hợp nhất đối với các bên.

Koray Shipping Inc không chịu ký quỹ bảo lãnh để giải phóng tàu Asena 1. Vì vậy, tại bản án sơ thẩm số 01 ngày 30/03/1996, Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng - Việt Nam đã quyết định bán đấu giá tàu Asena 1 để bù đắp thiệt hại của các chủ hàng.

Nhưng có một điều cần lưu ý rằng các vận đơn mà các chủ tàu Việt Nam ký phát đều quy định rằng tranh chấp nếu có sẽ xét xử tại tòa án hay trọng tài Việt Nam theo Bộ luật hàng hải Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua có khá nhiều tàu Việt Nam bị bắt giữ ở nước ngoài và không ít chủ tàu Việt Nam đả phải ra hầu tòa ở nước ngoài, ví dụ như: Hong Kong, Singapore, Trung Ọuốc... Khi thụ lý các vụ kiện này, các tòa án nước ngoài đều áp dụng nguyên tác vụ kiện liên quan tới quốc gia nào nhất để xác định tòa án thích hợp nhất cho việc xét xử vụ kiện.

=> Kết luận: Từ thực tiễn nêu trên có thể thấy rằng mặc dù vận đơn do các chủ tàu nước ngoài ký phát đơn phương quy định quyền tài phán của tòa án nước ngoài, song Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền xét xử các vụ kiện đòi bồi thường tổn thất hàng hóa phát sinh từ vận đơn. Điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ hàng Việt Nam và buộc các chủ tàu nước ngoài phải tôn trọng pháp luật Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế.

Trân trọng!

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Theo quy định của pháp luật hàng hải, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là gì?

Trả lời:

Điều 145. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

"1. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là thỏa thuận được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu giá dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng.

2. Hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng và các động sản khác, kể cả động vật sống, container hoặc công cụ tương tự do người giao hàng cung cấp để đóng hàng được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển."

(Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015).

Câu hỏi: Vận đơn trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là gì?

Trả lời:

Điều 148. Chứng từ vận chuyển

"...

2. Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

3. Vận đơn suốt đường biển là vận đơn ghi rõ việc vận chuyển hàng hóa được ít nhất hai người vận chuyển bằng đường biển thực hiện..."

(Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015).

Câu hỏi: Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự như thế nào?

Trả lời:

- Với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, vụ việc có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;

Thứ hai, vụ việc có các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

Thứ ba, vụ việc có các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.