- 1. Khái quát chung về quyền sở hữu
- 2. Quy định chung về xác lập quyền sở hữu
- 3. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu ?
- 2.1 Xác lập theo hợp đồng hoặc từ hành vi pháp lí đơn phương
- 2.2 Xác lập theo quy định của pháp luật
- 2.3 Xác lập theo những căn cứ riêng biệt
- 3. Hiệu lực pháp lý của việc chiếm hữu
- 4.Thế nào là sở hữu riêng?
- 5. Những tài sản nào được coi là thuộc sở hữu riêng?
1. Khái quát chung về quyền sở hữu
Thoạt nhìn, các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) về quyền sở hữu có nhiều nét tương đồng với các quy định cùng tính chất được ghi nhận tại các BLDS của các nước tiền tiến như Pháp, Đức, Nhật. Đặc biệt, về nội dung của quyền sở hữu, người làm luật Việt Nam thừa nhận quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (BLDS Điều 164). Sự thừa nhận đó không khác mấy so với sự nhìn nhận của người Pháp về các yếu tố đặc trưng của quyền sở hữu, như được khẳng định tại Điều 544 BLDS Napoléon: "Quyền sở hữu là quyền hưởng dụng và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối nhất, miễn là không phạm điều cấm theo luật hoặc theo văn bản lập quy”[1]. Điểm khác biệt đáng chú ý nhất có lẽ là việc cụm từ "quyền chiếm hữu” được ghi nhận trong định nghĩa chính thức về nội dung quyền sở hữu trong BLDS Việt Nam, nhưng không thấy xuất hiện trong điều luật tương ứng của BLDS Pháp.
Tuy nhiên, chính sự khác biệt ấy đã dẫn đến sự hình thành một chế độ pháp lý về sở hữu rất đặc thù trong luật Việt Nam. Điều này khiến cho một mặt, luật Việt Nam trở nên khó hiểu đối với thế giới, mặt khác, việc thực hiện quyền sở hữu trở nên phức tạp do sự trộn lẫn các quyền năng có tính chất khác biệt trong khuôn khổ một chế định duy nhất.
Nội dung quyền sở hữu gồm 3 quyền năng:
- Quyền chiếm hữu;
- Quyền sử dụng;
- Quyền định đoạt.
2. Quy định chung về xác lập quyền sở hữu
Theo quy định tại Mục 1, Chương XIV Bộ luật dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp:
1) Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;
2) Được chuyển giao quyền sở hữu theo thoả thuận;
3) Thu hoa lợi, lợi tức;
4) Trong trường hợp sáp nhập;
5) Trong trường hợp trộn lẫn;
6) Trong trường hợp chế biến.
Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu:
1) Vật bị chôn dấu, bị chìm đắm được tìm thấy;
2) Vật do người khác đánh rơi, bỏ quên;
3) Gia súc bị thất lạc;
4) Vật nuôi dưới nước;
5) Do được thừa kế;
6) Xác lập theo bản án, quyết định của Toà án hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác;
7) Xác lập theo thời hiệu.
3. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu ?
* Căn cứ để xác lập quyền sở hữu là những sự kiện pháp lí do BLDS quy định. Dựa vào nguồn gốc của những sự kiện pháp lí, người ta có thể phân chia làm ba nhóm sau đây:
2.1 Xác lập theo hợp đồng hoặc từ hành vi pháp lí đơn phương
Hợp đồng là một sự kiện pháp lí trên cơ sở thoả thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể làm phát sinh sự chuyển dịch quyền sở hữu đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Các hợp đồng: Mua bán, tặng, cho, cho vay v.v. nếu được xác lập phù hợp với quy định của BLDS thì những người được chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản đó. Những tài sản theo quy định của pháp luật phải đăng kí, sang tên, xin phép thì quyền sở hữu được xác lập từ thời điểm hoàn tất các thủ tục đó. Nghĩa là, bằng hợp đồng dân sự hợp pháp mà quyền sở hữu đối với vật của người này chấm dứt nhưng lại làm xuất hiện quyền sở hữu đối với vật của người khác.
Do các quy định của pháp luật về dân sự trước đây chưa hoàn thiện và do tính chất phức tạp của các quan hệ tài sản trong đời sống xã hội nên các giao dịch dân sự liên quan đến nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 sẽ được giải quyết theo quy định riêng. Đó là Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội sổ 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 (ngày Pháp lệnh nhà ở có hiệu lực). Theo quy định của Nghị quyết số 58 nói trên thì thủ tục chuyển quyền sở hữu trong các hợp đồng: Mua bán nhà ở, đổi nhà ở và tặng cho nhà ở giữa cá nhân với cá nhân sẽ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Tương tự, việc nhận tài sản từ di sản thừa kể của người chết theo di chúc (theo ý chí của người để lại di sản) hoặc những người được hưởng ưong hứa thưởng và thi có giải có quyền sở hữu đối với tài sản đã nhận theo di chúc hoặc tài sản đã nhận thưởng.
2.2 Xác lập theo quy định của pháp luật
Đây là những sự kiện pháp lí mà theo quy định của BLDS, quyền sở hữu được xác lập bao gồm:
- Kết quả của lao động sản xuất là sự hoạt động của con người ừong quá trình tác động vào thế giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà trước hết là cho bản thân chủ thể đó. Nguồn gốc ban đầu của tài sản là lao động, vì vậy ai đã bỏ sức lao động ra thì có quyền sở hữu đối với những thu nhập có được do lao động hoặc do sản xuất kinh doanh họp pháp (Điều 222 BLDS). Đối với hoa lợi, lợi tức, quyền sở hữu được xác lập theo quy định của pháp luật.
- Do các sự kiện sáp nhập, trộn lẫn, chế biến là sự hợp nhất tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau. Kể từ thời điểm sáp nhập, trộn lẫn, vật mới là tài sản thuộc sở hữu chung hoặc riêng của các chủ sở hữu đó. Những chủ sở hữu tài sản mới phải thanh toán phần giá trị tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 225, Điều 226 BLDS.
Trong trường hợp chế biến mà người chế biến đã dùng nguyên, vật liệu không thuộc sở hữu của mình nhưng ngay tình thì quyền sở hữu đối với tài sản mới được xác lập khi đã thanh toán giá trị nguyên vật liệu cho chủ sở hữu nguyên vật liệu đó.
- Do các sự kiện không xác định được chủ sở hữu hoặc do bị chôn giấu, đánh rơi, bỏ quên. Cơ sở của việc xác lập quyền sở hữu theo những sự kiện trên không phải chỉ đơn giản là các hành vi phát hiện, tìm thấy, nhặt được. Ngoài những sự kiện ưên, pháp luật quy định phải sau một thòi hạn nhất định tương ứng với mỗi sự kiện và giá trị của tài sản đó mà quyền sở hữu mới được xác lập. Ví dự. Đối với tài sản bị đánh rơi, bỏ quên phải sau một năm kể từ ngày thông báo công khai về tài sàn nhặt được, nếu giá trị bằng hoặc thấp hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định mà không xác định được ai là chủ sở hữu, hoặc chù sở hữu không đến nhận thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được..
Trong trường họp tìm thấy tài sản bị chôn giấu hoặc bị vùi lấp, bị chìm đắm thì quyền sở hữu được xác lập có thể thuộc các hình thức sở hữu khác nhau. Điểm a khoản 2 Điều 229 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
"Tài sản được tìm thấy là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hoá theo quy định của Luật di sản văn hoá thì thuộc về Nhà nước; người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật”;
Điểm b khoản 2 Điều 229 BLDS quy định:
“Tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử-văn hoá theo quy định của Luật di sản văn hoá mà có giá trị nhỏ hom hoặc bằng mười lần mức lưong cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước”.
- Do các sự kiện gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên. Đối với những sự kiện này, người bắt được ngoài việc thông báo công khai phải sau một thời hạn tuỳ thuộc vào đối tượng thất lạc thì quyền sở hữu mới được xác lập. Ví dự. Gia súc bị thất lạc thì sau khi thông báo công khai sáu tháng mà không có người đến nhận, gia súc đó sẽ thuộc quyền sở hữu của người bắt được. Nhưng đối với noi có tập quán thả rông gia súc thì thời hạn này lại là một năm. Đối với gia cầm và vật nuôi dưới nước, thời hạn này được xác định là sau một tháng kể từ ngày thông báo thất lạc.
- Do được thừa kế tài sản theo pháp luật. Thông qua việc nhận di sản thừa kế theo pháp luật, quyền sở hữu của một người nào đó được xác lập đổi với các tài sản mà họ đã nhận từ di sản của người chết.
2.3 Xác lập theo những căn cứ riêng biệt
Ngoài những căn cứ có tính phổ biến nêu trên, quyền sở hữu còn có thể được xác lập theo những căn cứ riêng khác. Đó chính là các bản án, quyết định của toà án (quyết định hoà giải thành) hoặc các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ: Công nhận quyền sở hữu cá nhân của mỗi người sau khi chia tài sản chung hợp nhất của vợ chồng trong các bản án, quyết định li hôn; các quyết định hoá giá nhà ở của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quyền sở hữu của một chủ thể còn có thể được xác lập theo thời hiệu khi có các điều kiện do pháp luật quy định như: Một người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì người ấy trở thành chủ sở hữu tài sản đó. Khi đó, quyền sở hữu sẽ được xác lập và được công nhận kể từ thời điểm người đó bắt đầu chiếm hữu. Tuy nhiên, quy định về thời hiệu này không áp dụng nếu BLDS hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
Đối với các tài sản bị tịch thu (Điều 244 BLDS), bị trưng mua (Điều 243 BLDS) về nguyên tắc đây là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với một chủ thể nhất định nhưng đó lại là căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu toàn dân.
* Nếu dựa vào quy trình hình thành và thay đổi quyền sở hữu thì các căn cử xác lập quyền sở hữu có thể chia thành:
- Căn cứ đầu tiên: Là những sự kiện pháp lí do đó mà quyền sở hữu được xác lập đầu tiên đối với vật. Theo căn cứ này quyền sở hữu mới phát sinh không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu trước đó. Ví dụ: Sản phẩm mới được tạo ra trong quá trình sản xuất hoặc việc nhận những kết quả của các tài sản mang lại.
- Căn cứ kế tục: Là những sự kiện pháp lí xác lập quyền sở hữu mới trên cơ sở chuyển dịch quyền theo ý chí của chủ sở hữu cũ thông qua các hợp đồng dân sự hợp pháp hoặc do thừa kế. Đối với các căn cứ kế tục, chủ sở hữu mới phải chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ liên quan đến tài sản đã chuyển giao của chủ sở hữu cũ với người thứ ba. Ví dụ: Người đã mua nhà của chủ sở hữu nhưng nhà đó chủ sở hữu đang cho người khác thuê mà hợp đồng thuê chưa hết kì hạn thì chủ sở hữu mới không có quyền huỷ bỏ hợp đồng thuê của chủ sở hữu cũ với người thuê khi chưa hết kì hạn thuê.
3. Hiệu lực pháp lý của việc chiếm hữu
Bảo vệ sự chiếm hữu. Là một tình trạng thực tế, nhưng chiếm hữu lại phát sinh hiệu lực pháp lý như một quan hệ giữa một người - gọi là người chiếm hữu - và một vật, được pháp luật thừa nhận, điều chỉnh.
Tư tưởng chủ đạo là sự chiếm hữu được bảo vệ theo một chế độ riêng, phân biệt với chế độ bảo vệ quyền sở hữu. Thông thường, người chiếm hữu cũng đồng thời là chủ sở hữu đích thực, hợp pháp của tài sản[5]. Bởi vậy, một cách hợp lý, người chiếm hữu được luật suy đoán là chủ sở hữu.
Chính vì được suy đoán là chủ sở hữu mà người chiếm hữu trong câu chuyện trộm túi xách nói trên được coi là nạn nhân của một vụ cướp giật trong mắt người đi đường và được bảo vệ. Ứng xử của C trong câu chuyện hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực sống trong xã hội có tổ chức và được khuyến khích như là cách ứng xử cần thiết nhằm góp phần duy trì trật tự xã hội.
Trong khuôn khổ một tranh chấp pháp lý về nội dung của quyền đối với tài sản, người chiếm hữu được miễn trách nhiệm chứng minh: người nào nói rằng người đang chiếm hữu không phải là chủ sở hữu thì phải trưng ra được các bằng chứng thuyết phục về điều mình khẳng định.
Cần nhấn mạnh rằng, sự bảo vệ người chiếm hữu là việc làm cần thiết trước hết nhằm duy trì trật tự xã hội. Đơn giản, việc chiếm hữu đang diễn ra trước mắt mọi người như là một phần của khung cảnh sống bình yên trong xã hội. Việc ai đó có hành vi xâm phạm sự chiếm hữu của người khác bằng kiểu ứng xử lệch chuẩn, thậm chí trái pháp luật, như chiếm đoạt bằng vũ lực, phải bị ngăn chặn, xử lý. Trong câu chuyện túi xách nói trên, giả sử B tình cờ gặp A ở nơi công cộng với chiếc túi xách trong tay, thì B phải báo cho nhà chức trách để có biện pháp xử lý vụ việc theo trình tự, thủ tục đòi lại tài sản do pháp luật quy định. B không được tự tiện xông tới dùng sức mạnh cơ bắp, vũ khí để giành lại tài sản: nếu B làm việc đó, thì trong mắt mọi người, B có hành vi xâm phạm tài sản của người khác, qua đó, xâm phạm trật tự xã hội và phải bị chế tài.
Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Chiếm hữu tài sản một cách liên tục, công khai trong một thời gian dài, người chiếm hữu mà không có quyền rốt cuộc sẽ có được quyền đó. Người chiếm hữu trong tư thế chủ sở hữu, dù không phải là chủ sở hữu đích thực, sau một thời gian, sẽ được thừa nhận là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản.
Để được hưởng sự thừa nhận đó, điều quan trọng là người chiếm hữu phải chiếm hữu trong tư thế và với thái độ tâm lý của người có quyền. Bởi vậy, người nghĩ rằng mình chỉ là một người thuê tài sản và ứng xử phù hợp với suy nghĩ đó, chẳng hạn, bằng cách trả tiền thuê đều đặn, không bao giờ có thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với tài sản, dù việc chiếm hữu tài sản thuê có kéo dài đến bao lâu.
Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi cho người chiếm hữu ngay tình. Người chiếm hữu mà không phải là chủ sở hữu tất nhiên có nghĩa vụ giao trả tài sản cho chủ sở hữu đích thực, đặc biệt là sau một vụ kiện đòi lại tài sản hoặc sau một vụ huỷ bỏ hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản.
Về mặt lý thuyết, khi giao trả tài sản, thì người chiếm hữu cũng phải giao trả cả hoa lợi, lợi tức gắn với tài sản, bởi những thứ đó, theo luật, là của chủ sở hữu tài sản gốc. Vấn đề, đối với người chiếm hữu ngay tình, là khi thu nhận hoa lợi, lợi tức, người này tin tưởng một cách chính đáng rằng chính mình là chủ sở hữu tài sản và cũng là chủ sở hữu hoa lợi, lợi tức phát sinh. Thông thường, hoa lợi, lợi tức là tài sản tiêu hao: một khi được thu nhận, tài sản đó thường được phải tiêu thụ trong thời gian ngắn. Do đó, buộc người chiếm hữu hoàn trả hoa lợi, lợi tức có nghĩa là buộc người này trả nợ bằng tiền. Nếu thời gian chiếm giữ tài sản kéo dài, số tiền có thể rất lớn và thực sự là một gánh nặng đối với người chiếm hữu. Trong trường hợp người chiếm hữu là ngay tình, áp đặt một gánh nặng như thế là không hợp với lẽ phải.
Bởi vậy, luật các nước quyết định thừa nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu ngay tình đối với hoa lợi, lợi tức gắn với tài sản chiếm hữu. Quyền này được thừa nhận chừng nào sự ngay tình còn được duy trì và chấm dứt từ lúc người chiếm hữu biết hoặc buộc phải biết mình không phải là người có quyền sở hữu đối với tài sản.
4.Thế nào là sở hữu riêng?
Sở hữu riêng là việc chủ sở hữu (cá nhân hoặc pháp nhân) có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của mình.
Điều 206 BLDS 2015 về “Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng” quy định về mục đích và phạm vi của sở hữu riêng như sau:
“1. Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật.
2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.“
Ngoài việc tự mình thực hiện các quyền năng được cho phép, cá nhân, pháp nhân có thể tự mình thực hiện quyền chiếm hữu tài sản hoặc thông qua hợp đồng dân sự giao cho người khác thực hiện quyền chiếm hữu như thông qua gửi giữ tài sản hay quyền sử dụng thông qua cho, mượn tài sản,…
5. Những tài sản nào được coi là thuộc sở hữu riêng?
Theo khoản 2 điều 205 BLDS 2015, “tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị“. Thông thường, những loại tài sản hợp pháp đó gồm:
- Những thu nhập hợp pháp: Là tiền hoặc hiện vật có được do kết quả lao động hợp pháp đem lại như tiền lương, tiền thưởng, tiền nhuận bút, thu nhập từ hoạt động kinh tế cá thể, tư bản tư nhân, tiểu chủ,… hoặc do được thừa kế, tặng, cho,.. Những tài sản này phải là những tài sản còn lại sau khi chủ sở hữu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế cho Nhà nước như thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân,… Ngoài ra còn có những khoản tiền trợ cấp, các khoản tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe tài sản, những khoản lợi nhuận thu được hợp pháp có được từ các giao dịch dân sự, hoa lợi, lợi tức,…
- Của cải để dành là tiền hoặc hiện vật: Là những tài sản chưa được dùng đến do thu nhập hợp pháp của cá nhân, pháp nhân đem lại
- Nhà ở nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu về sinh hoạt, là tư liệu tiêu dùng đặc biệt vì nó biểu hiện rõ khả năng tài chính, điều kiện và các yếu tố khác của chủ thể và có thể phát sinh lợi nhuận trong quá trình sử dụng.
- Tư liệu sinh hoạt phục vụ cho nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần của cá nhân như nhu cầu đi lại, giải trí, vui chơi, nghỉ ngơi,…
Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự quyền sở hữu, căn cứ xác lập quyền sử hữu cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê