1. Thủ tục xin cấp đổi sổ đỏ có yếu tố nước ngoài ?

Kính thưa Luật sư! .Tôi có một vấn đề xin được nhờ Anh Chị giúp đỡ tư vấn như sau: Năm 2008 tôi có mua thanh lý nhà tập thể và làm sổ đỏ mang tên tôi và con gái bằng tiếng Việt . (Tên trong hộ chiếu WAN YU CHING ) tên tiếng Việt là Vạn Vũ Trinh. Con gái tôi sinh năm 1997 mang quốc tịch Đài Loan, không có quốc tịch Việt Nam
Hiện tại cháu đã học xong lớp 12 và chuẩn bị về Đài loan học đại học. Vợ chồng tôi cùng con gái thống nhất làm lại bìa đỏ, bỏ phần tên con gái trong sổ đỏ, và chỉ để lại tên của một mình tôi. Vậy tôi xin nhờ Anh Chị Luật sư tư vấn giúp ,tôi phải làm những thủ tục gì để thay đổi nội dung chủ sở hữu trong bìa đỏ của gia đình tôi. Hiện trạng của tôi: Tôi hiện tại mang quốc tịch VIệt Nam, năm 1996 tôi đăng ký kết hôn với người Đài Loan và làm thủ tục ĐKKH tại sở Tư pháp thành phố Hải phòng. Vợ chồng tôi làm việc tại Việt Nam và chung sống ổn định cho đến nay. Chúng tôi có hai con, một con trai sinh năm 1999 và một con gái sinh năm 1997 .

Xin hỏi Anh Chị Luật sư:

- Con gái tôi có thể làm thủ tục cho tặng mẹ đẻ phần tài sản đó ko, và thủ tục chúng tôi làm ở Quận nơi chúng tôi đang cư trú hay phải làm tại Sở Tư pháp thành phố, và phần tên tiếng Việt trong sổ đỏ và tên tiếng Anh trong hộ chiếu thì có ảnh hưởng gì khi làm thủ tục cho tặng mẹ đẻ phần tài sản đó không?

Kính mong Anh Chị Luật sư tư vấn giúp. Chúc Anh Chị luôn mạnh khoẻ và công tác tốt.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn xin cấp sổ đỏ cho người nước ngoài, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn đã được đội ngũ Luật sư chúng tôi nghiên cứu dựa trên một số quy định của pháp luật điều chỉnh. Chúng tôi xin được phân tích theo hướng cụ thể như sau:

1. Thủ tục con gái bạn (mang Quốc tịch Đài Loan) tặng cho mẹ đẻ ở Việt Nam ?

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 có quy định về một số trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sự dụng đất như sau.

Điều 191. Trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sự dụng đất.

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

Theo đó, trong trường hợp này, bạn đang sinh sống tại Việt Nam thì việc nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ con gái bạn không thuộc điều hạn chế hay cấm của pháp luật. Nói cách khác, con gái bạn có thể làm thủ tục cho tặng bạn phần tài sản đó.

2. Quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho và Thủ tục cấp đổi GCN QSDĐ ?

Trước tiên, theo quy định của pháp luật thì khi lập hợp đồng tặng cho quyền sự dụng đất chỉ cần chứng minh được mối quan hệ thân thiết, gia đình (thông thường chỉ cần có sổ hộ khẩu chứng nhận là Mẹ - con). Đồng thời hồ sơ, thủ tục để Vợ chồng bạn xin cấp đổi GCN QSDĐ mới có ghi tên Vợ thì chỉ cần CMT + Sổ hộ khẩu (phải công chứng) mà không liên quan đến hộ chiếu của con gái bạn nên việc trong hộ chiếu của con gái bạn có ghi tên nước ngoài không ảnh hưởng đến thủ tục xin cấp đổi GCN QSDĐ. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định về hợp đồng chuyển nhượng trong Bộ luật dân sự năm 2015.

"Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hện hợp đồng về quyền sử dụng đất

1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan"

Thứ hai, thủ tục xin cấp đổi GCN QSDĐ.

Bước 1: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập hợp đồng (Tặng cho), các bên phải kê khai lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, nếu quá thời hạn trên sẽ bị phạt theo quy định của nhà nước.

Bước 2: Tiến hành kê khai nghĩa vụ tài chính tại UBND cấp quận/ huyện nơi có nhà, đất

Hai bên cần chuẩn bị một bộ hồ sơ nộp tới Ủy ban nhân dân quận/ huyện nơi có nhà, đất chuyển nhượng.

- Tờ khai lệ phí trước bạ (02 bản do bên mua ký)

- Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (02 bản do bên bán ký. Riêng trường hợp cho tặng 04 bản).

- Hợp đồng công chứng đã lập (01 bản chính)

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)

- CMND + Sổ hộ khẩu của cả bên mua và bên bán (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)

(LƯU Ý: Đối với trường hợp cho tặng này phải có giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân của người cho và người nhận để được miễn thuế thu nhập cá nhân).
Thời hạn có thông báo nộp thuế: 10 ngày Sau khi có thông báo thì người nộp thuế nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

+ Thuế sang tên sổ đỏ:

- Thuế thu nhập cá nhân: 2 % (Trường hợp của bạn được MIỄN)

- Thuế trước bạ: 0,5 % (theo quy định tại Nghị định số 45/2011/NĐ-CP)

Điều 2. Đối tượng chịu lệ phí trước bạ.

1. Nhà, đất.

Điều 6. Giá tính lệ phí trước bạ.

Giá tính lệ phí trước bạ là giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành.

Bộ Tài chính quy định cụ thể trình tự, thủ tục ban hành giá tính lệ phí trước bạ quy định tại Điều này.

Điều 7. Mức thu lệ phí trước bạ theo tỷ lệ (%)

1. Nhà, đất mức thu là 0,5%.

Bước 3: Kê khai hồ sơ sang tên tại Ủy ban nhân dân quận/ huyện nơi có nhà, đất

Hồ sơ kê khai gồm các giấy tờ sau:

- Hợp đồng tặng cho;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (bản gốc)

- Biên lai nộp tiền vào ngân sách nhà nước (bản gốc)

- Bản sao CMND + Sổ hộ khẩu của bên nhận cho tặng

Lệ phí sang tên sổ đỏ trường hợp tặng cho gồm:

+ Lệ phí địa chính: 15.000 đồng/trường hợp;

(Sau khi hồ sơ, thủ tục đã hợp lệ và thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai thì sẽ được nhận sổ đỏ sau 4,5 ngày).

2. Thẩm quyền cấp (đổi) GCN QSDĐ theo quy định

Căn cứ theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai 2013:

Điều 105. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

3. Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Theo đó, trường hợp của bạn sẽ do cơ quan Tài nguyên và Môi trường thuộc Quận/huyện bạn đang cứ trú cấp mà không phải lên Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thủ tục, hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận? Thời hạn cấp lại sổ đỏ mất là bao lâu ?

2. Tư vấn về việc sở hữu nhà ở Việt Nam của Việt kiều ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em là Việt kiều Mỹ, mỗi lần về Việt Nam được cấp visa 3 tháng. Vậy em có được quyền mua nhà ở Việt Nam không ? Nếu được lệ phí dich vụ sang tên bao nhiêu cho 1 căn nhà nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Em có cần thời gian lưu trú thực tế 3 tháng liên tục không? P/S: Em còn giấy chứng minh nhân dân cấp năm 1988 ?
Em xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn về việc sở hữu nhà ở Việt Nam của Việt kiều ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Từ ngày 1/7/2015, Luật nhà ở năm 2014 có hiệu lực cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Việt kiều) nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập cảnh vào Việt Nam thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở mà không bị hạn chế về số lượng và loại nhà ở được sở hữu. Cụ thể là theo điều 7 Luật nhà ở năm 2014 qui định:

Điều 7: Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.

Mặt khác, theo khoản 1 và Điểm b Khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở 2014 quy định về điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở, trong đó, đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam; Có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Điểm b Khoản 2 Điều 119 Luật Nhà ở 2014 cũng quy định về điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này và không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch.

Theo đó, bạn sẽ có quyền và nghĩa vụ đối với nhà ở tại Việt Nam theo qui định tại điều 10 và điều 11 Luật nhà ở như sau:

Điều 10. Quyền của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở:

1. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các quyền sau đây:

a) Có quyền bất khả xâm phạm về nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình;

b) Sử dụng nhà ở vào mục đích để ở và các mục đích khác mà luật không cấm;

c) Được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai;

d) Bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó;

đ) Sử dụng chung các công trình tiện ích công cộng trong khu nhà ở đó theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

Trường hợp là chủ sở hữu nhà chung cư thì có quyền sở hữu, sử dụng chung đối với phần sở hữu chung của nhà chung cư và các công trình hạ tầng sử dụng chung của khu nhà chung cư đó, trừ các công trình được xây dựng để kinh doanh hoặc phải bàn giao cho Nhà nước theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua nhà ở;

e) Bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về xây dựng;

g) Được bồi thường theo quy định của luật khi Nhà nước phá dỡ, trưng mua, trưng dụng nhà ở hoặc được Nhà nước thanh toán theo giá thị trường khi Nhà nước mua trước nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai;

h) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của mình và các hành vi khác vi phạm pháp luật về nhà ở.

2. Trường hợp thuộc diện sở hữu nhà ở có thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này thì trong thời hạn sở hữu nhà ở, chủ sở hữu được thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; khi hết thời hạn sở hữu nhà ở theo thỏa thuận thì chủ sở hữu đang quản lý, sử dụng nhà ở phải bàn giao lại nhà ở này cho chủ sở hữu nhà ở lần đầu.

3. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì có các quyền theo quy định tại Điều 161 của Luật này.

4. Người sử dụng nhà ở không phải là chủ sở hữu nhà ở được thực hiện các quyền trong việc quản lý, sử dụng nhà ở theo thỏa thuận với chủ sở hữu nhà ở.

Điều 11: Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở:

1. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các nghĩa vụ sau đây:

a) Sử dụng nhà ở đúng mục đích quy định; lập và lưu trữ hồ sơ về nhà ở thuộc sở hữu của mình;

b) Thực hiện việc phòng cháy, chữa cháy, bảo đảm vệ sinh, môi trường, trật tự an toàn xã hội theo quy định của pháp luật;

c) Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật khi bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; đối với giao dịch nhà ở là tài sản chung của vợ chồng thì còn phải thực hiện theo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình;

d) Thực hiện đúng quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác khi bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở; trường hợp thuộc diện sở hữu nhà ở có thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này thì việc cải tạo, phá dỡ nhà ở được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên;

đ) Đóng bảo hiểm cháy, nổ đối với nhà ở thuộc diện bắt buộc phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm;

e) Chấp hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về việc xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về nhà ở, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, phá dỡ nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, giải tỏa nhà ở, trưng mua, trưng dụng, mua trước nhà ở;

g) Có trách nhiệm để các bên có liên quan và người có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, bảo trì hệ thống trang thiết bị, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phần diện tích thuộc sở hữu chung, sử dụng chung;

h) Thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước khi được công nhận quyền sở hữu nhà ở, khi thực hiện các giao dịch và trong quá trình sử dụng nhà ở theo quy định của pháp luật.

2. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì ngoài các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này còn phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 162 của Luật này.

3. Người sử dụng nhà ở không phải là chủ sở hữu phải thực hiện các nghĩa vụ trong việc quản lý, sử dụng nhà ở theo thỏa thuận với chủ sở hữu nhà ở và theo quy định của Luật này.

Như vậy, theo quy định mới của Luật Nhà ở 2014 ,người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép sở hữu nhà ở nếu thuộc trường hợp được phép nhập cảnh vào Việt Nam mà không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch. Cho nên, trong trường hợp này, bạn có đủ điêu kiện để sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Còn về lệ phí dịch vụ cho việc sang tên một căn nhà ở nhỏ ở TP HCM thì trước tiên chúng tôi muốn biết diện tích căn nhà mà bạn muốn sở hữu là bao nhiêu? Và hiện tại công ty Luật Minh Khuê cũng đang triển khai tiến hành cung cấp dịch vụ sang tên quyền sử dụng đất. Để biết thêm thông tin chi tiết về vấn đề này và được giải đáp nhanh chóng bạn có thể liên lạc trực tiếp với công ty chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến : 1900.6162

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn xin cấp sổ đỏ (sổ hồng), sang tên nhà đất

3. Doanh nhân kiều bào đón sóng bất động sản ?

Được đánh giá đầy tiềm năng, thị trường bất động sản Việt Nam tiếp tục thu hút nhiều lượt doanh nhân nước ngoài gốc Việt trở về quê hương đầu tư.

Công ty cổ phần đầu tư Minh Việt do ông Chi Edward làm tổng giám đốc, mới đây đã mang thương hiệu Coldwell Banker từ Mỹ về Việt Nam theo hình thức nhượng quyền trong vòng 25 năm. Tuy không tiết lộ chính xác giá trị của thương vụ này nhưng ông cho hay ước tính lên đến hàng chục tỷ đồng. Ông cho biết, sẽ sử dụng thương hiệu này để xúc tiến các kế hoạch đào tạo chuyên ngành tư vấn, môi giới; trực tiếp quản lý và phát triển bất động sản tại Việt Nam. Hiện doanh nghiệp này đầu tư vào 3 dự án căn hộ, trung tâm thương mại tại TP HCM, Hà Nội và Hạ Long.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Doanh nhân kiều bào đón sóng bất động sản
Ông Chi Edward, kiều bào Mỹ, mang thương hiệu bất động sản nước ngoài về Việt Nam để nhượng quyền tại thị trường trong nước. Ảnh: Vũ Lê.

Trong khi đó, một doanh nghiệp khác là Công ty NAC Real Estate do nhóm kiều bào thành lập cũng muốn nhảy vào lĩnh vực đào tạo chuyên ngành bất động sản trong năm 2010. Từ Canada về nước, Jonh Nhật Nguyễn cùng một số kiều bào Bắc Mỹ bắt tay nhau thành lập Công ty NAC Real Estate, chuyên về dịch vụ quản lý và môi giới bất động sản.

Cuối năm 2009, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bình Thiên An (BTA) Trịnh Thanh Huy (Việt kiều Nga) công bố đầu tư hàng trăm triệu USD vào dự án căn hộ Diamond Island ngay ngã ba sông Sài Gòn và sông Giồng Ông Tố. Không dừng lại ở đó, hiện ông Huy xúc tiến đầu tư thêm dự án Thảo Điền Metropolice thuộc quận 2, TP HCM.

Trong quý II, III, năm 2010, hàng loạt dự án bất động sản nghỉ dưỡng của nhóm kiều bào Đông Âu được rầm rộ công bố. Đây là kết quả của quá trình khảo sát, thăm dò thị trường bất động sản của đội ngũ doanh nhân kiều bào trong thời gian dài.

Doanh nhân kiều bào đón sóng bất động sản
Dự án Diamond Island tại quận 2, TP HCM một kiều bào Nga về nước đầu tư xây dựng. Ảnh: V.L.

Khảo sát của Tập đoàn MIPIM ASIA dựa trên ý kiến của doanh nghiệp 46 quốc gia tham dự Hội chợ Triển lãm Bất động sản quốc tế MIPIM ASIA 2010, lượng nhà đầu tư quan tâm đến thị trường bất động sản Việt Nam đã tăng 20-30% so với năm 2008.

Còn theo kết quả khảo sát năm 2010 của Cơ quan Thương mại và đầu tư Anh quốc, phỏng vấn 520 lãnh đạo cao cấp ở tất cả lĩnh vực, 3 thị trường hàng đầu cho các nhà đầu tư trong 1-2 năm nữa là Trung Quốc (chiếm 20%), Việt Nam (19%), Ấn Độ đạt 18%. Đáng chú ý, Việt Nam đã 3 năm liền được giới đầu tư quốc tế chọn là một trong những thị trường được nhắm đến nhiều nhất bên cạnh các nền kinh tế phát triển khối BRIC: Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc.

Trao đổi với VnExpress.net, Tổng giám đốc Công ty Megagroup Nguyễn Xuân Châu dự báo: "Làn sóng doanh nhân kiều bào về nước đầu tư đang có xu hướng đa dạng và mạnh mẽ hơn".

Theo ông Châu, trước đây, hiện tượng doanh nhân kiều bào từ Đông Âu manh nha từ 10 năm trước và trải qua nhiều khâu khảo sát, chuẩn bị kỹ lưỡng. Tuy nhiên, sản phẩm bất động sản của các doanh nghiệp này chỉ thực sự được công bố rầm rộ trong 2-3 năm trở lại đây. Riêng trong năm 2010, hàng loạt dự án căn hộ nghỉ dưỡng, khu du lịch sinh thái ven biển của các "đại gia" này được công bố, khởi công dày đặc hơn. Sau này, làn sóng doanh nhân kiều bào Bắc Mỹ cũng trở về nước nhưng tham gia vào lĩnh vực quản lý, tư vấn, đào tạo bất động sản.

Ông Châu phân tích, bất động sản Việt Nam vốn là thị trường non trẻ, có nhiều cơ hội để tạo dựng và khai phá nên các tập đoàn bất động sản của kiều bào đã ồ ạt trở về nước thăm dò. Hai nhóm kiều bào Bắc Mỹ và Đông Âu đang lấp dần những khoảng trống thị trường bất động sản Việt Nam bị thiếu hụt là đào tạo, tư vấn quản lý bất động sản và tạo cú hít cho bất động sản du lịch nghỉ dưỡng.

Phó giám đốc Công ty TNHH CB Richard Ellis Việt Nam, Rudolf Hever nhận định, việc doanh nhân kiều bào về tham gia vào thị trường bất động sản trong nước chứng tỏ sức hấp dẫn của thị trường này rất lớn. Làn sóng đầu tư này sẽ góp phần làm tăng tính cạnh tranh và tạo sự đa dạng của thị trường địa ốc, đồng thời làm tăng tính đột phá cho thị trường bất động sản Việt Nam so với các thị trường bất động sản trong khu vực và thế giới.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Bán đất đai thuộc sở hữu của công ty có cần đăng ký ngành nghề kinh doanh bất động sản hay không ?

4. Làm sao để kiều bào mua nhà nhiều hơn ?

Tuần rồi, Phòng Thương mại Úc (Auscham) đã tổ chức hội thảo về các quy định liên quan đến Việt kiều mua bất động sản tại Việt Nam. Tại hội thảo nhiều ý kiến cho rằng cơ hội đã mở, nhưng hệ thống các văn bản hướng dẫn cụ thể còn nhiều khúc mắc.

Cơ hội đã mở

Tại hội thảo các diễn giả cho rằng, nhu cầu mua và sở hữu nhà tại Việt Nam của cộng đồng người Việt ở nước ngoài là rất lớn. Theo ước tính, hiện có hơn 3 triệu người Việt Nam định cư tại hơn 100 quốc gia, lãnh thổ trên thế giới. Trong đó có nhiều doanh nhân, chuyên gia, trí thức đang về làm việc tại Việt Nam. Đây là nhóm khách hàng có tiềm lực tài chính và được nhiều chủ đầu tư dự án bất động sản trong nước hướng đến.

Theo ông Marc Townsend, Tổng giám đốc Công ty CB Richard Ellis Vietnam (CBRE), mặc dù kinh tế Việt Nam còn nhiều khó khăn nhưng thị trường bất động sản vẫn được đánh giá là một trong những thị trường nổi bật và năng động trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Ông cũng cho rằng với những quy định mới cho phép người Việt Nam ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà thông thoáng hơn, cụ thể là Luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và điều 121 của Luật Đất đai có hiệu lực từ ngày 1-9-2009, thì thị trường bất động sản đang có cơ hội phát triển.

Cùng quan điểm này, ông Danny Armstrong, Tổng giám đốc ngân hàng Commonwealth Bank tại Việt Nam, cho rằng thị trường bất động sản là một trong những thị truờng quan trọng nhất của nền kinh tế. Tại Việt Nam, có ba hình thức phổ biến để huy động vốn cho thị trường bất động sản bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng và nguồn vốn huy động từ khách hàng. Trong đó, vốn vay ngân hàng đóng vai trò quyết định và quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư dự án mà còn cả với khách mua nhà. Do đó, Commonwealth Bank hy vọng sẽ có vai trò tích cực - là người cung cấp vốn cho thị trường bất động sản thông qua các khoản vay dành cho cá nhân, doanh nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu mua ở, đầu tư hoặc chỉnh trang bất động sản hiện hữu.


Úc là nước có cộng đồng người Việt sinh sống thuộc loại lớn, và Commonwealth Bank phục vụ cho gần 57% đối tượng khách hàng này. Với lợi thế trên, Commonwealth Bank là một trong những ngân hàng đi tiên phong trong việc triển khai các sản phẩm vay mua nhà cho người nước ngoài và Việt kiều. Những Việt kiều tại Úc đáp ứng đầy đủ các điều kiện về sở hữu nhà theo quy định có thể dễ dàng tiếp cận khoản vay mua nhà của Commonwealth Bank tại Việt Nam mà không có sự khác biệt với các khách hàng người Việt.

Ông Armstrong cho biết khoản vay mua nhà được giải ngân từ tháng 7-2009 đến nay của Commonwealth Bank tại Việt Nam lên đến gần 200% so với 11 tháng trước đó, nhưng số lượng Việt kiều vay mua nhà tại Việt Nam được đánh giá vẫn còn ít. Điều này có thể do quy định về sở hữu bất động sản dành cho người nước ngoài và Việt kiều còn chưa rõ ràng, ông Armstrong đưa ra nhận xét.

Cần có hướng dẫn cụ thể

Ông Mark Fraser - Tổng giám đốc Hãng luật Fraser tại Việt Nam - cho rằng các quy định về việc cho phép Việt kiều mua nhà ở tại Việt Nam dù đã cởi mở hơn nhưng cũng chưa đáp ứng được mong đợi của phần lớn Việt kiều có mong muốn được sở hữu nhà tại Việt Nam.

Theo quy định, Việt kiều có quốc tịch Việt Nam hoặc chứng minh được là người có gốc Việt Nam chỉ có thể mua nhà “để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam”. Quy định này thoạt nghe có vẻ đơn giản, tuy nhiên trên thực tế để chứng minh là người “có gốc Việt Nam” hoặc xác nhận “quốc tịch Việt Nam” là một quá trình thủ tục hành chính phức tạp, nhiêu khê và tiêu tốn nhiều thời gian, chưa kể mỗi địa phương làm mỗi kiểu khác nhau, thiếu sự đồng bộ.

Vì vậy, mặc dù nhu cầu về quyền sở hữu bất động sản của kiều bào tại Việt Nam là rất lớn, nhưng trên thực tế từ năm 2004 đến nay, số Việt kiều được chính thức sở hữu nhà tại Việt Nam chỉ ước chừng 150 trường hợp, và chủ yếu là tại TPHCM.

Một số ý kiến cho rằng cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa. Chỉ khi vấn đề thủ tục hành chính được cải thiện thì mới có thể khơi dòng chảy cho kiều bào mua nhà ở tại Việt Nam.

Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

- Người có quốc tịch Việt Nam được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên.


- Người gốc Việt Nam được phép cư trú từ ba tháng trở lên thuộc diện người về đầu tư trực tiếp, người có công đóng góp cho đất nước, nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam, người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

- Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng nêu trên, được cấp giấy miễn thị thực và được phép cư trú từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.

(Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và điều 121 của Luật Đất đai)

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

------------------------------------------------------------

>> Xem thêm:  Đính chính lại thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào ?

5. Kiều bào nên nhờ luật sư khi mua nhà trong nước ?

"Để tránh rủi ro khi tham gia vào thị trường bất động sản trong nước, kiều bào nên nhờ đến luật sư khi giao dịch", Luật sư Nguyễn Hồng Bách (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) khuyên cáo.

Quốc hội đã thông qua dự luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và điều 121 của Luật Đất đai, cho phép kiều bào và người nước ngoài được sở hữu bất động sản tại Việt Nam. Đất Việt đã trao đổi với luật sư Nguyễn Hồng Bách (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) về vấn đề này.

* Thưa luật sư, ông có thể làm rõ hơn những quy định của Luật Pháp trong việc tạo điều kiện cho kiều bào và người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt nam?

Tại tờ trình của Chính phủ tháng 4/2009 lên Quốc hội có nêu rõ, theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 2 đối tượng là: công dân Việt Nam và nguời gốc Việt đang cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Tuy nhiên, sau gần 3 năm thực hiện Luật Nhà ở mới chỉ có khoảng hơn 140 trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Điều 126 Luật Nhà ở 2005 và điều 121 Luật Đất đai 200.3 đều quy định đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Song, giữa Luật Nhà ở và Luật Đất đai lại có những quy định khác nhau về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam ở nước ngoài. Cụ thể, Điều 129 Luật Nhà ở 200.5 cho phép chủ sở hữu là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền cho thuê và uỷ quyền quản lý nhà ở, nhưng điều 121 Luật Đất đai năm 200.3 lại không cho phép điều trên. Do đó, cần sửa đổi điều 121 Luật Đất đai năm 200.3 và điều 126 Luật Nhà ở năm 200.5 để tránh sự mâu thuẫn.

Kiều bào nên nhờ luật sư khi mua nhà trong nước

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162


Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai mở rộng hơn về đối tượng và quyền được sở hữu nhà của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Cụ thể, tại Điều 126 Luật Nhà ở năm 200.5, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (bao gồm công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam) phải thuộc 5 nhóm đối tượng: người về đầu tư lâu dài; người có công với đất nước; nhà văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam; người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam và người được phép cư trú tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên thì mới được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 126 của Luật sửa đổi, bổ sung có 3 điểm mới. Cụ thể:

Điều 126 sửa đổi chia đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài nói chung thành hai nhóm khác nhau, đó là Người có quốc tịch Việt Nam và Người gốc Việt Nam, trong đó, Người có quốc tịch Việt Nam đều có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà không phân biệt về đối tượng và không bị hạn chế số lượng và Người gốc Việt Nam mà thuộc các diện: về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà văn hoá, nhà khoa học, người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam đang sinh sống ở trong nước thì cũng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà không hạn chế về số lượng.

Bổ sung 2 đối tượng vào khoản 1 Điều 126, đó là: người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu, đang làm việc tại Việt Nam và người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

Việc bổ sung, mở rộng đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam như trên vừa bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật Quốc tịch năm 2008, pháp luật về xuất, nhập cảnh của Việt Nam.

Đồng thời bổ sung 3 quyền, đó là: quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, quyền cho thuê và quyền được uỷ quyền quản lý nhà ở, nhưng so với công dân Việt Nam ở trong nước thì đối tượng này bị hạn chế hơn 2 quyền, đó là quyền góp vốn và quyền bảo lãnh bằng tài sản là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

Còn việc người nước ngoài được quyền sở hữu bất động sản ở Việt Nam thì lại được quy định tại Nghị quyết số 19/2008 ngày 3 tháng 6 năm 2008 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì chủ yếu cho phép cá nhân, tổ chức nước ngoài có hoạt động đầu tư tại việt nam được phép mua nhà chung cư trong thời hạn tối đa là 50 năm.

* Trước khi Quốc hội cho phép kiều bào và người nước ngoài được sở hữu bất động sản (BĐS) tại Việt Nam, một số người thuộc đối tượng trên đã mua BĐS và nhờ công dân Việt Nam đứng tên. Nay họ chuyển quyền sở hữu sang chính tên mình thì vấn đề pháp lý phải giải quyết như thế nào, thưa ông?

Việc ngưòi Việt Nam định cư ở nước ngoài nhờ nguời thân, bạn bè ở Việt Nam đứng tên hộ hoặc mua bán viết tay về quyền sở hữu nhà ở, không làm các thủ tục theo quy định đã làm ảnh hưởng đến nguồn thu của nhà nước từ các giao dịch về nhà ở và là nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa các bên.


Nếu trường hợp đã nhờ người mua đứng tên mà nay họ muốn sang tên thì phải thực hiện theo quy định chung, như có thể làm hợp đồng để người đứng tên tặng, cho tài sản hoặc hợp đồng mua bán.

Nếu trường hợp nhà chưa sang tên người mua mà nay kiều bào muốn sang tên họ thì người mua phải làm thủ tục sang tên với người bán theo quy định chung.

Tóm lại, kiều bào phải thực hiện theo các quy định chung của pháp luật Việt Nam.

* Khi chi phí một khoản tiền lớn để mua BĐS, thường thì khách hàng quan tâm đến giá cả và tính rủi ro. Với cương vị là một luật sư, ông khuyến cáo điều gì với khách hàng là kiều bào?

Kiều bào và người nước ngoài không có nhiều thời gian để tìm hiểu về thủ tục hành chính, đặc biệt các quy định của pháp luật Việt Nam nên họ không nắm được nhiều. Do đó, để tránh rủi ro khi tham gia các giao dịch thì họ nên nhờ đến luật sư.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập)

>> Xem thêm:  Không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì có phạm tội không?