1. Xin giấy chứng nhận độc thân như thế nào ?

Xin chào Luật Minh Khuê:Em đã từng xin giấy (xác nhận độc thân) nhưng chưa kịp đăng ký kết hôn, nay muốn xin lại thì phải làm thủ tục như nào ạ? Trước em xin giấy xác nhận để đăng ký với một người tên A (nhưng chưa kịp đăng ký) nay lại muốn đăng ký kết hôn với một người tên B thì có vấn đề gì vướng mắc không ạ ?
Em đã từng ra UBND xin lại giấy thì họ nói đã cho rồi không cho lại được em thấy vô lý quá. Sau đó họ bảo đưa lại cái giấy cũ họ đã cho trước kia để hủy nhưng thời gian đã quá lâu nên em không còn giữ giấy đó (12 năm rồi ạ) Thưa Luật sư em phải làm thế nào để có được lại cái giấy xác nhận đây ạ?
Mong sớm nhận được câu trả lời của Luật sư. Em cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn quy định về xác nhận tình trạng độc thân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Nghị định 123/2015 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ Tịch:

Điều 22 Thủ tục cấp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tkhai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chtịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đnghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.

5. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đcơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cu theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

6. Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.

Theo Điều 23 của nghị định 123/2015/NĐ-CP về giá trị sử dụng của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

1. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.

2. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác.

3. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.

Như vậy trong trường hợp này của bạn theo quy định của pháp luật là bạn bắt buộc phải nộp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Có phải ghi tên chồng sắp cưới vào giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ?

2. Thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng độc thân ?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như sau:

"1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

4. Trường hợp người yêu cầu ác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.

5. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

6. Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó."

Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân:

- Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

- Quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP cũng được áp dụng để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, nếu có yêu cầu.

Như vậy, để được cấp giấy xác nhận tình trạng độc thân thì bạn phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình . Nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định thì bạn tới Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi bạn cư trú để cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Bạn không phải tới Sở tư pháp cấp tỉnh để phỏng vấn.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ?

3. Làm đám cưới mà không xin giấy độc thân có được không ?

Dạ xin chào luật sư. Hồi trước em có làm đám cưới mà không có đăng ký kết hôn thì giờ em muốn làm giấy độc thân có được không. Nhưng khi vợ chồng của em chia tay nhau thi chồng của em đã lập gia đình khác và cũng có thể đi đăng ký kết hôn với người sau nay được. Còn em cũng sắp kết hôn với người nước ngoài thì có bị làm khó dễ gì hay không ạ ?
Xin trả lời cho em biết giùm ạ em xin chân thành cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì vợ chồng bạn có làm đám cưới nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên theo quy định pháp luật trên quan hệ vợ chồng của hai bạn không được pháp luật thừa nhận. Có nghĩa bạn và người "chồng" kia hoàn toàn có quyền đi xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và kết hôn với người khác.

Tuy nhiên, nếu hai vợ chồng bạn chung sống với nhau từ trước ngày 3/1/1987 theo quy định của Nghị quyết 35/2000/QH10 thì quan hệ hôn nhân của các bạn được pháp luật thừa nhận, hai vợ chồng bạn không thể kết hôn với người khác khi chưa làm thủ tục ly hôn và được công nhận ly hôn từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Không có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có đăng ký kết hôn được không ?

4. Chồng tai nạn mất 3 năm rồi thì vợ có được coi là độc thân không ?

Kính chào Luật sư, thưa Luật sư, em có một câu hỏi như sau: vợ sắp cưới của em đã có chồng và anh ấy đã mất vì tai nạn giao thông được hơn ba năm rồi. Hai người cưới trong Đắc Lắc sau đó chuyển về Hải Dương thì anh ấy mất, giờ em và cô ấy chuẩn bị cưới.
Cô ấy mới chuyển khẩu ra Thường Tín, Hà Nội (quê gốc) được hơn hai tháng. Liệu giờ xin giấy giới thiệu từ Thường Tín về xã em thì có được coi là độc thân không ?
Mong Luật Sư giải đáp giúp em ạ. Em xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật Hôn nhân về xác nhận độc thân, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì vợ sắp cưới của bạn đã có chồng tuy nhiên chồng của cô ấy đã mất do tai nạn giao thông. Đối chiếu theo quy định tại Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân của vợ sắp cưới bạn với chồng cô ấy đã chấm dứt do đó nếu như cô ấy có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật này thì cô ấy hoàn toàn vẫn có quyền được kết hôn:

"Điều 65. Thời điểm chấm dứt hôn nhân

Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.

Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

5. Tư vấn về việc ai có khả năng giành quyền nuôi con cao hơn khi ly hôn?

Chào luật sư, luật sư cho tôi hỏi vướng mắc sau: Nếu hai vợ chồng ly hôn, cả hai người đều muốn quyền nuôi con thì khả năng của ai sẽ cao hơn để được giám hộ nuôi con? Xin luật sự đã tư vấn cho tôi.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, cả hai vợ chồng đều muốn ly hôn nhưng lại không thỏa thuận được với nhau về vấn đề ai sẽ là người nuôi con sau khi ly hôn. Chính vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì vợ hoặc chồng có thể được Tòa án quyết định giao con để trực tiếp nuôi dưỡng tùy vào các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, nếu vợ chồng bạn thỏa thuận được việc nuôi con sau khi ly hôn, tức là chồng bạn đồng ý cho bạn nuôi con, còn chồng bạn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con hoặc ngược lại, chồng bạn là người nuôi con còn bạn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn. Lúc này, Tòa án sẽ xem xét điều kiện của người được lựa chọn là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của hai vợ chồng bạn căn cứ vào thỏa thuận của hai vợ chồng bạn để đảm bảo lợi ích tốt nhất về mọi mặt cho con của các bạn bao gồm thu nhập hàng tháng, chỗ ở, điều kiện vật chất lẫn tinh thần tốt nhất về mọi mặt cho con của bạn thì Tòa án sẽ giao con cho vợ hoặc chồng nuôi.

Trường hợp thứ hai, hai vợ chồng bạn không thể thỏa thuận được việc nuôi con, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn, lúc này, người được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn phụ thuộc vào độ tuổi của con như sau:

- Con dưới 36 tháng tuổi:

Trong trường hợp con dưới 36 tháng tuổi thì Tòa án sẽ giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng trừ trường hợp vợ chồng thỏa thuận để chồng nuôi để đảm bảo quyền lợi cho con hoặc người vợ không có đủ điều kiện về thu nhập, kinh tế cũng như chỗ ăn ở, nơi học tập cho cháu với điều kiện tối thiểu nhất thì người chồng có điều kiện tốt hơn thì Tòa án sẽ xem xét và giao cho người chồng trực tiếp nuôi dưỡng con.

- Con từ đủ 07 tuổi trở lên:

Trong trường hợp này, Thẩm phán giải quyết vụ việc ly hôn của hai vợ chồng bạn sẽ xem xét nguyện vọng của người con, nếu con có nguyện vọng với ở cùng với ai thì người đó sẽ được Tòa án giao trực tiếp nuôi dưỡng con. Trường hợp, người được cháu lựa chọn ở cùng không có đủ khả năng về cả vật chất lẫn tinh thần để có thể chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người còn lại nếu chứng minh được mình có đủ điều kiện có đủ khả năng nuôi dưỡng con thì Tòa án sẽ giao con cho người có đủ điều kiện để nuôi dưỡng.

- Con có độ tuổi từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi:

Trong trường hợp này, cả hai vợ chồng đều có quyền ngang nhau trong việc giành quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Do đó, hai vợ chồng bạn nếu muốn giành quyền nuôi con thì phải chứng minh được mình có đủ khả năng để nuôi con từ thu nhập, tài sản đến khả năng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, có nhiều thời gian để nuôi dưỡng con cũng như có sự giúp đỡ từ người thân thích như anh chị em ruột, bố mệ, ông bà để có thể chăm sóc cháu,... Tòa án sẽ căn cứ vào khả năng của từng người để xem xét và giao con cho một người trực tiếp nuôi dưỡng.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn xin giấy chứng nhận độc thân khi đang ở nước ngoài