- 1. Xin hỏi luật sư ngoại tình có phạm tội hay không?
- 1. Ngoại tình và các yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ một chồng là gì ?
- 2. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là như thế nào ?
- 3. Căn cứ quyết định hình phạt là gì ?
- 2. Vợ ngoại tình đòi ly hôn và nuôi 2 con có được không?
- 3. Vợ hoặc chồng ngoại tình có được khởi kiện không ?
- 4. Quy định về việc xử lý hành vi ngoại tình?
- 5. Bị tố cáo khi tố giác về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng?
1. Xin hỏi luật sư ngoại tình có phạm tội hay không?

Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
1. Ngoại tình và các yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ một chồng là gì ?
Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định tại Điều 182 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể các yếu tố cấu thành của tội danh này như sau:
Chủ thể: Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng cũng phải đảm bảo các yếu tố (điều kiện) cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định trong Bộ luật hình sự. Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này cả khoản 1 và khoản 2 của Điều 182 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 đều là tội phạm ít nghiêm trọng.
Mặt khách quan: Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể có một trong các hành vi sau: Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn (kể cả hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận) và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân. Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể có một trong các hành vi sau: Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn (kể cả hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận) và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân. Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn; hoặc người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn (đây là trường hợp hôn nhân thực tế mà pháp luạt công nhận là vợ chồng) Hành vi sống chung như vợ chồng với người khác là hành vi của nam và nữ không có đăng ký kết hôn nhưng về sống chung với nhau như vợ chồng, có thể có tổ chức lễ cưới hoặc không tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; gia đình có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; họ sống với nhau như vợ chồng một cách công khai, mọi người xung quanh đều biết và cho rằng họ là vợ chồng. Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ là trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng biết rõ người khác đã có chồng, đã có vợ nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này. Khi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đã có chồng hoặc có vợ, người phạm tội phải biết rõ người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là người đang có chồng hoặc có vợ. Nếu không biết rõ thì không phải hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội phạm này là hậu quả nghiêm trọng, nếu hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng mà người phạm tội cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì cũng chưa cấu thành tội phạm này.
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng là do cố ý.
Khách thể: Khách thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chính là chế độ một vợ, một chồng, là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật hôn nhân và gia đình quy định; bảo vệ chế độ một vợ, một chồng khỏi bị xâm hại.
2. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là như thế nào ?
Theo Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ: Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú.
3. Căn cứ quyết định hình phạt là gì ?
Như vậy, nếu hành vi của bạn có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như đã nêu ở trên đây thì bạn phải chịu trách nhiệm trong hành vi phạm tội của mình, và ngược lại, đồng thời, khi đưa ra quyết định cuối cùng về mức án bạn phải chấp hành thì Toà án ngoài việc dựa trên hành vi phạm tội thì Toà án còn phải dựa trên các tình tiết giảm nẹ và các tình tiết tăng nặng của hành vi phạm tội để đưa ra phán quyết cuối cùng.
Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.
2. Vợ ngoại tình đòi ly hôn và nuôi 2 con có được không?

Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài, gọi :1900.6162
Trả lời:
Trong trường hợp cậu và mợ bạn ly hôn thì quyền nuôi con và phân chia tài sản sẽ được tiến hành như sau:
Thứ nhất, về quyền nuôi con:
Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền nuôi con sau ly hôn như sau:
"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
Theo thông tin bạn trình bày thì con của 2 vợ chồng cậu mợ bạn một bé 16 tuổi, một bé 10 tuổi; cho nên phải xem xét nguyện vọng của con. Nếu 2 bé muốn ở với ai thì người đó sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng.
Thứ hai, về phân chia tài sản.
Nguyên tắc phân chia tài sản được quy định tại điều 59 Luật hôn nhân gia đình, cụ thể:
"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."
Nếu tài sản cần chia là quyền sử dụng đất thì phải tuân theo nguyên tắc :
"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn
1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;
d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.
3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này"
Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi.
3. Vợ hoặc chồng ngoại tình có được khởi kiện không ?
Trả lời:
Khoản 2 điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cấm các hành vi sau:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.
“Chung sống như vợ chồng” là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...
Việc vợ bạn ngoại tình với người đàn ông khác và thuê nhà sống chung với nhau như vợ chồng là vi phạm pháp luật. Hành vi này có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP với mức phạt 1-3 triệu đồng.
Trường hợp chung sống như vợ chồng như trên nếu gây hậu quả nghiêm trọng như làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát… sẽ bị xử lý về hình sự theo quy định tại điều 182 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể:
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.
Như vậy, nếu có đủ bằng chứng chứng minh việc vợ bạn và người đàn ông kia có quan hệ bất chính và chung sống như vợ chồng với nhau, bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan có thẩm quyền. Hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự - tùy theo hậu quả mà bên thứ 3 có gây ra cho gia đình nhà bạn khi các bên không đạt được mức thỏa thuận và có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào để giải quyết.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về xử lý hành vi ngoại tình, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.
4. Quy định về việc xử lý hành vi ngoại tình?
Thưa luật sư, Cho cháu hỏi: Bố cháu có ngoại tình với 1 cô. Mẹ cháu có xô xát với cô đấy nhưng không gây thương tích gì. Cô ta đâm đơn kiện mẹ cháu đánh người. Cho cháu hỏi liệu mẹ cháu có được tố cáo lại là phá hoại hạnh phúc gia đình người khác không?
Trả lời:
Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó.
Căn cứ khoản 35 Điều 1 Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ:
“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;"
Như vậy để có căn cứ xử phạt vi phạm hành chính với hành vi ngoại tình mà bạn nói thì chứng minh đó là hành vi chung sống như vợ chồng với người khác.
5. Bị tố cáo khi tố giác về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng?
Gia đình tôi phát hiện bố ngoại tình có thu được chứng cứ nhưng sau đó lại tiêu hủy, sau một thời gian theo dõi chúng tôi có chứng cứ họ cùng vào nhà nghỉ (Có quay video lại lúc họ ra khỏi phòng) sau đó gia đình tôi viết đơn tố cáo người phụ nữ kia phá hủy hạnh phúc gia đình. Sau một thời gian người phụ nữ đó viết đơn lên xã nói họ vào nhà nghỉ để bàn công việc và tố cáo lại gia đình tôi là vu khống. Hôm nay xã mời chúng tôi hai ngày sau lên giải quyết, xin hỏi tôi cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xin cảm ơn!
Luật sư tư vấn:
Căn cứ Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:
"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Vì động cơ đê hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."
Như vậy hiện nay không có quy định rõ ràng như thế nào là ngoại tình nên việc bạn cần chứng minh là hành vi và đoạn băng ghi hình trên có hình ảnh thể hiện có tình cảm với nhau để chứng minh thông tin đó không phải là bịa đặt.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ngoại tình, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê