1. Xử lý mua thuốc bảo vệ thực vật bị cấm lưu hành và đang vận chuyển về

Về xử lý hình sự:

Căn cứ Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi điểm a khoản 41 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, quy định về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm như sau:

- Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định, thì sẽ bị xử phạt theo quy định:

+ Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít;

+ Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;

+ Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

+ Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

+ Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

+ Hàng hóa dưới mức quy định nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều quy định hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

- Mức phạt:Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Những quy định trên nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và xã hội, ngăn chặn hành vi lợi dụng các hàng hóa cấm để thực hiện các hoạt động phi pháp và đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Về xử lý hành chính:

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, "Buôn bán" được giải thích là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và các hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông. Căn cứ vào Điều 8 của nghị định trên, các hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm bị xử phạt hành chính với các mức tiền phạt khác nhau tùy thuộc vào khối lượng của thuốc bảo vệ thực vật bị cấm lưu hành. Dưới đây là các mức phạt cụ thể:

- Phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng dưới 5 kilôgam hoặc dưới 5 lít.

- Phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng từ 5 kilôgam đến dưới 10 kilôgam hoặc từ 5 lít đến dưới 10 lít.

- Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng từ 10 kilôgam đến dưới 15 kilôgam hoặc từ 10 lít đến dưới 15 lít.

- Phạt từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng từ 15 kilôgam đến dưới 20 kilôgam hoặc từ 15 lít đến dưới 20 lít.

- Phạt từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng từ 20 kilôgam đến dưới 30 kilôgam hoặc từ 20 lít đến dưới 30 lít.

- Phạt từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng từ 30 kilôgam đến dưới 40 kilôgam hoặc từ 30 lít đến dưới 40 lít.

- Phạt từ 70.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng từ 40 kilôgam đến dưới 50 kilôgam hoặc từ 40 lít đến dưới 50 lít.

- Phạt từ 90.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng có số lượng từ 50 kilôgam trở lên hoặc từ 50 lít trở lên.

Nếu vi phạm quy định về buôn bán thuốc bảo vệ thực vật, việc xử phạt hành chính hay hình sự sẽ căn cứ vào khối lượng của thuốc bảo vệ thực vật mà đã vận chuyển, chứ không xác định theo giá trị của lô hàng đó. ần kiểm tra lại khối lượng của lô hàng để xác định hướng xử lý đúng theo quy định pháp luật.

 

2. Mua thuốc bảo vệ thực vật bị cấm lưu hành và đang vận chuyển về thuộc trường hợp bị xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử lý là bao lâu?

Căn cứ vào quy định tại Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, được sửa đổi bởi điểm a khoản 4 Điều 1 Luật Xử lý Vi phạm Hành chính sửa đổi 2020, thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định như sau:

- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:

+ Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

+ Vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế;

Như vậy, trong trường hợp mua thuốc bảo vệ thực vật bị cấm lưu hành và đang vận chuyển, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính là 02 năm.

Quy định này nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quản lý, xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật, nhất là những trường hợp có thể gây hậu quả nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

 

3. Người mua thuốc bảo vệ thực vật bị cấm bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà ăn năn hối cải thì có được giảm nhẹ không?

Theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi điểm a khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, có quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong số đó, điểm s) nêu rõ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Như vậy, trong trường hợp người mua thuốc bảo vệ thực vật bị cấm lưu hành và đang vận chuyển, nếu người này tự thú thành khẩn khai báo về việc vi phạm và ăn năn hối cải, đây sẽ được xem là một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hành động tự thú và ăn năn hối cải của người phạm tội có thể được xem xét như một yếu tố tích cực trong quá trình xử lý hình sự, có thể ảnh hưởng đến quyết định và mức độ xử lý của cơ quan chức năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người này. Điều này nhấn mạnh sự nghiêm túc trong việc xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật, nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Thời hiệu này mang lại tính công bằng và hiệu quả trong quản lý pháp luật, đồng thời giúp ngăn chặn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này.

 

Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật cần có điều kiện gì?

Quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với Tổng đài tư vấn pháp luật qua số hotline 1900.6162 để nhận được sự hỗ trợ chuyên nghiệp và tận tâm từ đội ngũ chuyên gia của chúng tôi. Đối với những trường hợp cần sự tư vấn chi tiết hơn, chúng tôi cũng rất hoan nghênh quý khách gửi yêu cầu thông tin chi tiết qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác. Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và sự tin tưởng của quý khách hàng!